SCREEN

Cpanel

20Tháng chín2017

Kinh nghiệm trong nước

Kinh nghiệm trong nước (10)

   DulichmoinctdI. Nghiên cứu một số điển hình

   Năm 2017, ngành Du lịch Việt Nam ghi nhận 2 sự kiện quan trọng là sự ra đời của Nghị quyết số 08-NQ/TW do Bộ Chính trị ban hành ngày 16/1/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và Luật Du lịch sửa đổi (sau đây gọi là Luật Du lịch) được Quốc hội chính thức thông qua ngày 19/6/2017 và có hiệu lực vào 1/1/2018. Trong mối tương quan giữa 3 nhiệm vụ then chốt ngành Du lịch đã thực hiện trong nhiều năm qua dưới sự hỗ trợ của dự án EU-ESRT, đó là: Xây dựng thể chế, chính sách; Nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển sản phẩm; và Đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nhiều sản phẩm du lịch mới đã thu hút sự quan tâm của toàn ngành và của xã hội, đã có tác động tích cực góp phần làm đa dạng sản phẩm du lịch của Việt Nam, và đã khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và văn hóa bản địa và thế mạnh của địa phương. Trong bài nghiên cứu - trao đổi này, tôi lựa chọn một số sản phẩm du lịch mới hiện nay để nghiên cứu như những điển hình tốt về du lịch trong nước để đưa ra một số nhận định đối với sự phát triển sản phẩm du lịch mới nói chung trong tương lai.
   Luật Du lịch định nghĩa: Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Luật Du lịch cũng xác định chính sách phát triển sản phẩm du lịch như sau: Đầu tư phát triển sản phẩm du lịch mới có tác động tích cực tới môi trường, thu hút sự tham gia của cộng đồng dân cư; đầu tư phát triển sản phẩm du lịch biển, đảo, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa và sản phẩm du lịch đặc thù khác;
   Tôi đã chọn quan sát một số sản phẩm du lịch mới tại một số địa phương, gồm có: Du lịch cộng đồng ở xã Ngọc Chiến, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Du lịch cộng đồng ở xã Quỳnh Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; Tuyến phố đi bộ của Hà Nội; Tour “Áo dài Hà Nội”; Du lịch y tế ở thành phố Hồ Chí Minh.
   1. Du lịch cộng đồng xã Ngọc Chiến, huyện Mường La (Sơn La)
   Xã Ngọc Chiến là một điểm trong tuyến du lịch mới lên vùng Tây Bắc gồm Mù Cang Chải – Ngọc Chiến – Mộc Châu với tài nguyên thiên nhiên là suối nước nóng trên 700C của bản Lướt và cây Sa Mu ngàn năm tuổi cùng nhiều điểm mạnh nổi trội khác như độ cao trung binh trên 1.600m so với mực nước biển, nhiều phong tục, tập quán, món ăn có một không hai.
Nhưng có thể nói, du lịch cộng đồng ở các vùng bản làng dân tộc ở Việt Nam đã là loại hình du lịch đã quen thuộc đối với khách du lịch trong và ngoài nước. Vẫn váy áo người Thái ấy, vẫn nếp nhà sàn lợp gỗ Pơmu thơm nồng như đã thấy đâu đó ở Mai Châu, Điện Biên, Mường Lò (Yên Bái)... nhưng ở Ngọc Chiến có gì đó khác lạ.
   Giải mã cho sự khác biệt ẩn dấu ở đây là văn hóa bản địa. Người dân Ngọc Chiến có niềm tin mạnh mẽ vào truyền thuyết về một con rồng lửa giúp người dân đánh thắng các bộ lạc chuyên đi cướp bóc của cải, sau đó đã không về trời mà ở lại với họ. Nguồn suối nước nóng trời cho như chính là hơi thở ấm áp của rồng lửa vẫn đang quấn quýt bên họ, hoà sức sống của rồng vào nguồn nước quanh làng. Người dân trong bản luôn trân trọng nguồn suối nước này và họ cũng tôn trọng bản thể tự nhiên trong nguồn nước đó nên mỗi khi chiều về, sau một ngày lao động thì trai gái bản vô tư trầm mình dưới dòng suối "tiên trần nơi hạ giới" để gột bỏ đi hết những mệt mỏi, ưu phiền, được tiếp lửa sinh lực từ con suối nước nóng huyền bí này. Có lẽ chính vì vậy mà những người con gái nơi đây dường như đẹp hơn từ làn da, dáng người, các em bé dường như yêu đời hơn, sáng sủa hơn, người già trông thong dong, thảnh thơi hơn, không có dáng vẻ tất bật kiếm con cá, kiếm củ khoai, đụm củi...
   Ngoài nguồn nước “suối nguồn tươi trẻ” của bản làng mang lại sự cân bằng khỏe khoắn của cơ thể, sự sảng khoái về tinh thần, Ngọc Chiến cũng có hàng trăm nếp nhà sàn bằng gỗ Pơmu, mái gỗ ngả màu rêu xanh nằm yên bình nối tiếp nhau dưới mây chiều giăng mắc bao phủ khắp núi đồi và cánh đồng. Không cách xa nhau như ở các bản người Thái khác ở Tây Bắc, các hộ gia đình ở đây sống quần cư, thuận lợi cho việc bảo vệ nhau và làm cho cuộc sống thêm phần ấm áp, đoàn kết mà ít nơi nào có được. Khách du lịch không muốn rời đi vì có nhiều điểm hấp dẫn khác để khám phá như nghề truyền thống se tơ, dệt vải, đan lát của người Thái, lễ hội gội đầu của người Thái, hội Gầu thào của người Mông, hội dâng hoa măng của người La Ha, các làn điệu, câu hát Then với sự sùng bái Mường Trời, và cách chữa bệnh bằng các loại thảo dược độc đáo.
   Theo lời kể của gia đình bác Chinh, một gia đình đi đầu trong việc khai thác tiềm năng du lịch cộng đồng bản Lướt: Từ nhiều năm về trước, khi du lịch chưa phát triển và chưa có sự giao thoa của nhiều nền văn hóa, không gian tắm suối không lớn, mọi khoảng cách về tuổi tác, giới tính dường như không còn. Nhưng hiện nay, để thu hút và đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng khách du lịch trải nghiệm, người dân đã cho xây dựng các khu vực tắm riêng biệt cho nam, nữ của cả khách và cộng đồng.”
   Sản phẩm du lịch cộng đồng xã Ngọc Chiến được công ty du lịch Thiên đường Á châu PATTOUR thuộc Câu lạc bộ Du lịch Cộng đồng của Hiệp hội Du lịch Việt Nam đưa vào khai thác từ cuối năm 2016 hưởng ứng năm Du lịch Quốc gia Tây Bắc - Lào Cai 2017. Chắc rằng, để phát triển và bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của người dân địa phương sẽ cần những tổ chức, cá nhân tâm huyết, tham gia mạnh mẽ và sát sao cùng các bên liên quan từ quản lý nhà nước, hoạch định chính sách, đến việc tiếp thị, kết nối nguồn lực để đào tạo những kiến thức căn bản vận hành kinh doanh lưu trú du lịch tại nhà dân (homestay), dạy ngoại ngữ cho người dân để phục vụ giao tiếp với khách nước ngoài, và nhất là nâng cao nhận thức cho người dân địa phương giữ gìn bản sắc văn hoá xây dựng “du lịch có trách nhiệm” ở đây.
   2. Du lịch cộng đồng ở xã Quỳnh Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
   Từ năm 2010, Ủy ban Nhân dân tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL), Trung tâm xúc tiến du lịch tỉnh đã tiến hàn khảo sát, xây dựng mô hình làng văn hóa du lịch cộng đồng ở xã Quỳnh Sơn, huyện Bắc Sơn. Quỳnh Sơn là địa danh lưu giữ được nhiều nhà sàn truyền thống (chiếm khoảng 85% kiến trúc các hộ gia đình) của dân tộc Tày, và nhiều lễ hội của đồng bào dân tộc như lễ hội Lồng tồng (xuống đồng) ngày 12, 13 tháng Giêng âm lịch với nghi thức cầu mùa màng và các trò chơi, trò diễn dân gian; Khởi nghĩa Bắc Sơn ngày 27/9 hàng năm; Các điệu dân ca, dân vũ như hát ví, hát then, múa tán Đàn, chùa chầu…
   Từ tháng 9/2010, với 5 hộ gia đình được chọn làm thí điểm kinh doanh loại hình homestay cho tới năm 2014 đã có 40 hộ tham gia, đầu tư cải tạo nhà cửa để có thể đón được khách du lịch. Năm 2011, quỹ chương trình xúc tiến du lịch của tỉnh đã hỗ trợ các hộ tu sửa nhà ở, di dời chuồng trại, mua sắm một số trang thiết bị thiết yêu như chăn, rèm, đệm,… Năm 2012, chương trình xúc tiến du lịch của tỉnh tiếp tục hỗ trợ kinh phí cho các hộ gia đình đầu tư bổ sung cơ sở vật chất, gồm quạt máy, đệm, các dụng cụ phục vụ đội văn nghệ. Ngoài ra các hộ gia đình được chọn làm thí điểm cũng đã chủ động mua sắm các vật dụng cần thiết, tìm hiểu nghệ thuật ẩm thực địa phương. Mỗi hộ gia đình có thể phục vụ được 10-15 khách/ lượt. Xã Quỳnh Sơn đã làm các biển chỉ dẫn, biển quy ước của làng du lịch cộng đồng, khôi phục và nâng cấp hệ thống đường giao thông bằng các dự án xây dựng nông thôn mới. Đội văn nghệ xã Quỳnh Sơn được hỗ trợ một phần kinh phí để đầu tư trang phục và nhạc cụ (bao gồm 1 bộ tăng âm loa đài, 5 bộ đàn tính và xóc nhạc) để phục vụ khách du lịch với các điệu múa dân gian, múa tán đàn, hát then, hát ví. Năm 2012, xã Quỳnh Sơn đã tổ chức 1 lớp bồi dưỡng về hát then đàn tính cho các thành viên đội văn nghệ gồm 23 người.
   Nhiều hộ gia đình khác có nguyện vọng được tham gia mô hình hoạt động du lịch cộng đồng. Nhân dân có ý thức về loại hình du lịch mới và giữ gìn các nét đẹp văn hóa, chủ động xây dựng và cải tạo cảnh quan khu nhà ở, mua sắm trang thiết bị phục vụ đón khách. Tính đến tháng 6/2014, Quỳnh Sơn đón trên 762 lượt khách gồm nhiều đối tượng khác nhau như: sinh viên, cán bộ đi công tác hoặc tham quan thực tế, học tập, tìm hiểu về văn hóa địa phương…
   Kể từ khi triển khai loại hình du lịch cộng đồng ở xã Quỳnh Sơn đến nay, tình hình an ninh, trật tự địa phương luôn được đảm bảo, không có tệ nạn xã hội, nhân dân dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, có ý thức giữ gìn môi trường và cảnh quan thiên nhiên. Loại hình du lịch cộng đồng được kết hợp với du lịch tìm hiểu văn hóa lịch sử an toàn khu cách mạng Bắc Sơn để góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Điểm đến Quỳnh Sơn được giới thiệu trong phóng sự chuyên đề “Lạng Sơn - điểm đến của bạn” do VTV2 thực hiện và trong chương trình “S Việt Nam” của Đài truyền hình Việt Nam về khám phá ẩm thực bánh lá ngải, bánh trưng đen.
   Dù khách đến tham quan và mức tiêu dùng dịch vụ của địa phương còn ít nhưng hoạt động du lịch bước đầu là nguồn động viên khích lệ cho người dân địa phương tiếp tục đầu tư, xây dựng làng văn hóa du lịch cộng đồng và tăng cường tình đoàn kết giữa các hộ dân trong việc vận hành kinh doanh, chuẩn bị tiếp đón khách du lịch. Trong tương lai, chắc chắn du lịch cộng đồng xã Quỳnh Sơn cần được quan tâm hơn nữa để tăng khả năng đón khách với chất lượng dịch vụ cao hơn. Để đạt được mục tiêu này, xã Quỳnh Sơn cần có kế hoạch đầu tư nâng cấp, mở rộng số lượng các hộ dân có khả năng tham gia kinh doanh loại hình homestay đạt chuẩn. Quan trọng và cấp thiết hơn nữa là việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ du lịch cho đội ngũ lao động làm công tác du lịch trên địa bàn xã, và người dân địa phương.
   3. Tuyến phố đi bộ của Hà Nội
   Tuyến phố đi bộ của Hà Nội lần đầu triển khai thực hiện chính thức từ 3/1/2014 với 6 tuyến phố đi bộ mới gồm Hàng Buồm, Mã Mây, Hàng Giầy, Lương Ngọc Quyến, Tạ Hiện, Đào Duy Từ. Tháng 10/2016, không gian đi bộ được mở rộng thêm 9 tuyến phố mới gồm 7 phố và 2 ngõ, bao gồm phố Hàng Chiếu, ngõ Gạch, Nguyễn Siêu, Đào Duy Từ (đoạn từ Hàng Buồm đến Hàng Chiếu), ngõ Cầu Gỗ, phố Hàng Bạc, Đinh Liệt, Gia Ngư, ngõ Trung Yên, nâng tổng số không gian đi bộ lên 15 tuyến phố. Thời gian mở cửa tuyến phố đi bộ trong 3 tối cuối tuần (thứ 6, thứ 7, Chủ nhật), bắt đầu từ 19h - 24h (đối với mùa Hè) và từ 18h - 24h (đối với mùa Đông), ngoài ra phố đi mở mở cả ngày đối với các ngày lễ lớn.
Theo báo cáo của Ủy ban Nhân dân (UBND) thành phố Hà Nội tháng 12/2016, không gian đi bộ trở thành nơi vui chơi cho người dân thành phố, thu hút đông khách du lịch trong và ngoài nước tham gia các hoạt động như trò chơi dân gian, biểu diễn văn nghệ truyền thống và đương đại, giải trí, ẩm thực,… Trung bình ban ngày lưu lượng khoảng 3.000 - 5.000 người, buổi tối khoảng 15.000 - 20.000 người.
   Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, để sản phẩm du lịch tuyến phố đi bộ Hà Nội hấp dẫn hơn đối với khách du lịch trong nước và quốc tế, kể cả với người dân Hà Nội thì cần đổi mới các loại hình trình diễn, vui chơi, giải trí. Ông Nguyễn Tiến Đạt, phó Giám đốc công ty Transviet cho rằng có thể tái hiện không gian “Hà Nội qua các thời kỳ”, khu trưng bày ảnh, hiện vật, phương tiện giao thông. Ví dụ, tại không gian Hà Nội thời Pháp thuộc sẽ có trưng bày ảnh Hà Nội và các cổ vật thời Pháp thuộc, xe xích lô kéo tay... Trong không gian này, có thể tái tạo cảnh Hà Nội xưa bằng những toa tàu điện để mọi người chụp ảnh và có thể làm cà phê tàu điện. Như vậy, mỗi du khách khi đến Hà Nội sẽ hiểu rất nhanh về các thời kỳ lịch sử của Thủ đô.
   Hoạt động không gian đi bộ ở thủ đô Hà Nội được tổ chức với sự phối hợp chặt chẽ của Sở Du lịch Hà Nội, UBND quận Hoàn Kiếm, Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Ngoại vụ, Công an thành phố Hà Nội, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị TP Hà Nội,… có thể nói là bước đột phá của du lịch thủ đô. Sự phối hợp của các cơ quan chức năng đã đảm bảo công tác an ninh, mỹ quan, trật tự đô thị, tạo môi trường văn hóa tuyến phố đi bộ văn minh. Trong thời gian tới, cần tiếp tục làm đa dạng hơn các hoạt động văn hóa nghệ thuật, giao lưu biểu diễn quốc tế, cần lập kế hoạch tổ chức các sự kiện và thông báo rộng rãi cho nhân dân biết sớm, đặc biệt, cách phục vụ cũng phải chuyên nghiệp hóa cao.
   4. Tour “Áo dài Hà Nội”
   Ngày 11/12/2016, “Không gian áo dài Việt” chính thức khai trương, mở cửa phục vụ du khách trong nước và quốc tế tại Lanhuong Fashion House (số 18 đường Âu Cơ , Hà Nội, ngay sau khi diễn ra Festival Áo dài Hà Nội 2016. Đây là một trong số các địa điểm được lựa chọn là điểm dừng chân trong tour “Áo dài Hà Nội” do Sở Du lịch Hà Nội khởi xướng. Xuất phát từ đặc điểm phố Cầu Gỗ từng là nơi có nhiều cửa hàng áo dài có chung chữ “Trạch” và cả một làng áo dài Trạch Xá (huyện Ứng Hòa) chuyên cung cấp các sản phẩm và vải may áo dài, Sở Du lịch Hà Nội đã khảo sát và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho một số nhà mốt trên địa bàn thủ đô để đưa sáng kiến xây dựng tour “Áo dài Hà Nội” vào thực tiễn. Liên quan đến quy trình làm ra một chiếc áo dài, từ khâu ý tưởng, thiết kế, sản xuất, xưởng may, xưởng thêu, cho tới các phụ trang, văn hóa mặc,… cần có sự kết hợp của nhiều ngành nghề sản xuất khác, tour “Áo dài Hà Nội” chọn điểm nhấn “Không gian áo dài Việt” với điểm độc đáo là hoạt động hướng tới truyền thống, mang đậm bản sắc văn hóa, sử dụng 100% nguồn nguyên liệu trong nước, kết hợp trưng bày và trình diễn của nghệ nhân đến từ các làng nghề như làng nuôi tằm tơ Mỹ Đức, làng lụa Vạn Phúc, thêu Quất Động, chạm bạc Định Công - Đồng Xâm, gốm Bát Tràng, dệt Triều Khúc, nón lá Làng Chuông… Không những thế, khi đến đây, khách du lịch còn có điều kiện tìm hiểu về nguồn gốc và các kiểu áo dài, về nghề dệt tơ, tằm cùng những nét khái quát về văn hóa mặc, sự phát triển qua các thời kỳ của tà áo dài truyền thống. “Không gian áo dài Việt” được Sở Du lịch Hà Nội công nhận là cơ sở đạt chuẩn phục vụ khách du lịch, là nơi giao lưu, gặp gỡ, hợp tác của các nhà thiết kế thời trang trong nước, ngoài nước, tiếp đón các đoàn khách đến với Hà Nội, tham dự các hoạt động văn hóa như Tuần văn hóa Việt Nam - Ma-lai-xi-a - In-đô-nê-xi-a .
Tour “Áo dài Hà Nội” mới được công ty công ty du lịch Châu Á Thái Bình Dương APT Travel đưa vào khai thác từ tháng 10/2016 được xem cầu nối giữa văn hóa, truyền thống trong trang phục áo dài với du lịch. Cho tới nay nhiều doanh nghiệp du lịch như Du lịch Việt, Transviet đã có ý tưởng đưa áo dài vào không gian phố cổ Hà Nội, phố đi bộ Hà Nội để tăng sức hấp dẫn cho các tour du lịch. Để khai thác sản phẩm này một cách bài bản, có trọng tâm trong một thời gian dài cần được đầu tư, nghiên cứu thêm, có sự tham gia mạnh mẽ của các nghệ nhân áo dài, các doanh nghiệp liên quan trong quy trình khép kín sản xuất áo dài và sự ủng hộ, hưởng ứng của người dân dựa trên hiểu biết về ý nghĩa của sản phẩm du lịch độc đáo này.
   5. Du lịch nha khoa ở thành phố Hồ Chí Minh
Trong thời gian gần đây, du lịch thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) lựa chọn ngành nha khoa thẩm mỹ là một trong số những điểm nhấn để thu hút khách quốc tế vì một đặc điểm dễ nhận thấy là yếu tố giá thành dịch vụ nha khoa của thành phố rẻ hơn từ 2-3 lần so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Malaysia,… Ngoài ra, theo thống kê, số lượng y, bác sĩ nha khoa tại TP.HCM chiếm hơn 50% của cả nước, với hơn 3.000 bác sĩ dày dặn kinh nghiệm, được tập huấn, đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ hàng năm. Nguyên nhân là tại Việt Nam chi phí đào tạo bác sĩ nha khoa không cao, nhân công cũng rẻ hơn.
   Ngoài việc khách đến điều trị nha khoa, thẩm mỹ kết hợp nghỉ dưỡng, thị trường du lịch nha khoa còn có tiềm năng khai thác đối tượng khách tổ chức sự kiện, triển lãm, khách đi công tác, hội họp liên quan đến phát triển du lịch nha khoa. Cụ thể, TP.HCM đã tổ chức Ngày hội Du lịch nha khoa ngày 24/6/2017 và lễ ra mắt câu lạc bộ du lịch nha khoa do Sở Du lịch và Sở Y tế phối hợp tổ chức, triển lãm “Dịch vụ Nha khoa và Du lịch lữ hành – Mùa khuyến mãi”, đón tiếp các diễn giả đến từ Nhật Bản, Malaysia… trình bày và chia sẻ.
   Theo các bác sĩ chuyên ngành nha khoa, đối tượng Việt kiều chiếm tỷ phần lớn trong số khách đến. Ngoài ra, số lượng ngoại kiều tuy ít hơn nhưng mức tăng trưởng cũng rất nhanh. Chỉ tính riêng tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt TP.HCM năm 2014 có khoảng 300 lượt người, nhưng từ đầu năm 2017 đến nay, con số này đã tăng lên gần 1.000 lượt người. Theo thống kê của các cơ sở y tế trên địa bàn TP.HCM, hằng năm có đến 100.000 lượt người nước ngoài đến từ các thị trường phát triển như Úc, Mỹ, New Zealand, Anh… thông qua con đường đi du lịch nghỉ dưỡng để kết hợp việc điều trị răng miệng. Nguồn khách chủ yếu từ các nước phát triển như Australia, Mỹ, New Zealand, Anh, Pháp…
   Du lịch nha khoa là một trong những sản phẩm du lịch y tế thế mạnh trên thế giới hiện nay. Ở TP.HCM cũng vậy, bác sĩ Nguyễn Đức Minh - Giám đốc Bệnh viện Răng Hàm Mặt TP.Hồ Chí Minh - cho rằng, du lịch nha khoa là một trong 5 nhóm sản phẩm chủ lực của du lịch y tế của thành phố. Trong thời gian tới, TP.HCM sẽ xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm Du lịch và Nha khoa trở thành thương hiệu và sản phẩm thế mạnh của du lịch y tế thành phố. Song song với đó là việc tăng cường sự kết hợp giữa các cơ sở điều trị nha khoa với nhau, và giữa các cơ sở điều trị nha khoa với các công ty lữ hành, xây dựng thương hiệu nha khoa của TP.HCM nói riêng và của Việt Nam nói chung.
   II. Nhận định tổng quan và bài học kinh nghiệm
   Trong khuôn khổ bài tham luận này, chúng tôi cho rằng để được xem xét là một sản phẩm du lịch mới có tiềm năng thì cần xem xét một số khía cạnh như sau: Sản phẩm du lịch mới cần phải thu hút được một đối tượng đáng kể khách khám phá, trải nghiệm; Sản phẩm đó có điểm độc đáo, khác biệt và đã bước đầu phát huy hiệu quả; Có tác động đối với kinh tế - xã hội địa phương; Có khả năng phát triển, liên kết với các ngành, các lĩnh vực khác trong tương lai.
   Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/1/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quy hoạch Phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 nêu rõ định hướng phát triển sản phẩm du lịch, bao gồm các phương diện sau:
   Phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng theo các vùng được tổ chức theo các không gian phát triển du lịch với tính chất đặc trưng nổi trội để tạo dựng thương hiệu từng vùng có sản phẩm điểm đến tổng hợp.
   Đa dạng hóa sản phẩm phục vụ các đối tượng khách với những nhu cầu đa dạng như: du lịch MICE Hội họp, Khuyến thưởng, Hội nghị, Triển lãm; du lịch đô thị; du lịch giáo dục; du lịch thể thao; du lịch dưỡng bệnh; du lịch du thuyền; du lịch làm đẹp…
   Tăng cường liên kết giữa các địa phương, doanh nghiệp; theo khu vực, các hành lang kinh tế; cùng các ngành vận chuyển, các liên kết vùng, liên vùng và quốc tế để tạo thành sản phẩm du lịch hấp dẫn.
   Như vậy, qua nghiên cứu các điển hình đã nêu trên, xin nêu một số nhận định tổng quan về sản phẩm du lịch mới ở Việt Nam như sau:
   1. Các sản phẩm chú trọng khai thác thế mạnh của địa phương về tài nguyên thiên nhiên, văn hóa truyền thống, phong tục tập quán độc đáo, và nguồn lực con người với kỹ năng và công nghệ cao, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
   2. Các sản phẩm du lịch có chủ đề dựa trên thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, cộng đồng, và công nghệ y học.
   3. Các dòng sản phẩm đáp ứng thị trường mục tiêu: khách du lịch trải nghiệm, khách du lịch sáng tạo, khách du lịch đại chúng; khách du lịch công vụ, và khách du lịch chữa bệnh, làm đẹp.
   4. Cần có nghiên cứu, tiếp tục vận hành thí điểm và hoàn thiện sản phẩm mới, trong đó lưu ý tới các tác động đối với kinh tế, sinh kế của người dân địa phương.
   5. Cần có sự ủng hộ, tham gia đóng góp ý tưởng và nguồn lực của khu vực doanh nghiệp để từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hơn các hoạt động trong chuỗi dịch vụ, phù hợp với nhu cầu của mỗi thị trường khách du lịch đối với từng sản phẩm.
   6. Tiếp tục xây dựng nguồn quỹ tái đầu tư cho phát triển sản phẩm, trong đó có đào tạo kỹ năng cho cộng đồng làm du lịch địa phương, nâng cao điều kiện cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch.
   III. Kết luận
   Việc nghiên cứu điển hình một số sản phẩm du lịch mới và đưa ra nhận định, bài học kinh nghiệm cho việc phát triển các sản phẩm này trong tương lai có thể giúp ích cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách tiếp tục đầu tư và thực hiện vận hành bài bản và bền vững hơn, hoàn thiện sản phẩm sao cho phù hợp với sự phát triển chung về văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ, phù hợp với xu hướng phát triển du lịch chung của Việt Nam, của khu vực và thế giới./.

(Hình ảnh tại Cơ sở lưu trú du lịch cộng đồng Ngọc Chiến: Các nếp nhà sàn bằng gỗ pơ mu ở Ngọc Chiến dùng để phục vụ khách du lịch, khai thác nguồn nước suối khoáng nóng thiên nhiên trong cảnh quan núi rừng như níu chân du khách ở lại lâu hơn)

Chiến Thắng

   5.vanhoadantoc 1 Trong những năm qua, Du lịch đã dần khẳng định vị trí trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Để làm được điều này, việc kết hợp giữa văn hóa và du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra tính hấp dẫn riêng có của du lịch. Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch đã nhận được nhiều sự quan tâm đánh giá của các chuyên gia và nhìn chung đều thống nhất ở điểm chú trọng yếu tố văn hóa truyền thống dân tộc là cần thiết, vừa bảo tồn và khai thác hiệu quả các giá trị nhằm hướng tới việc phát triển du lịch bền vững.
   Trong quá trình dựng nước và giữa nước lâu dài, nhân dân Việt Nam đã tự tạo ra một nền văn hóa riêng biệt và dần nâng lên trình độ văn minh. Nền văn hóa và văn minh đó đã khẳng định sự tồn tại độc lập của người Việt Nam trên lãnh thổ quốc gia của mình, sát cánh cùng các dân tộc ít người. Nền văn hóa đó rất đa dạng và nhiều màu sắc, phản ánh cuộc sống lao động sáng tạo và tự chủ của cư dân sống trên đất nước Việt Nam.

“Du lịch trở thành một trong ba ngành công nghiệp tạo ra việc làm lớn nhất trên thế giới. Du lịch thúc đẩy sự đầu tư lớn về cơ sở hạ tầng và phần lớn trong số đó hỗ trợ một cách tích cực cho việc cải thiện điều kiện sống của người dân địa phương. Du lịch cũng mang lại nguồn thu đáng kể từ thuế thu nhập. Những nghề nghiệp mới nhất trong du lịch cũng được tạo ra ở các nước đang phát triển giúp cho họ cân bằng cơ hội kinh tế và tránh khỏi việc di cư tự do từ các vùng quê lên các thành phố lớn” (UNWTO, 2007).
Tổng quan về du lịch cộng đồng 

minh hoaCác quan điểm tích cực về vai trò của du lịch đã hỗ trợ và khuyến khích các chính phủ và các tổ chức phát triển ở nhiều quốc gia sử dụng du lịch như một cứu cánh cho việc cân bằng quá trình phát triển đất nước. Để đảm bảo việc phát triển du lịch đúng với tầm vóc của mình, ngoài những nguồn lực cơ bản đầu tư do chính cộng đồng, chính phủ và các tổ chức phát triển tạo ra, bên cạnh đó người dân địa phương cũng cần có cam kết tham gia, đầu tư về thời gian, tiền bạc, nỗ lực và hy vọng vào du lịch. Vấn đề của mối quan hệ này là xây dựng được lòng tin, khả năng đem lại nguồn lợi lớn về xã hội, kinh tế cho cộng đồng của họ từ việc tham gia làm du lịch. Để giải quyết được các vấn đề về tác động tiêu cực của du lịch, một số loại hình du lịch mới đã được giới thiệu. Đặc biệt là du lịch cộng đồng.

   Bản Sín Chải cách thị trấn Sa Pa khoảng 4 km, nằm trên sườn núi thuộc dãy Hoàng Liên, phần lớn địa phận của Bản nằm trong hoặc sát kề với Vườn quốc gia Hoàng Liên với những dãy rừng nguyên thủy bạt ngàn với hệ sinh thái đa dạng và quý hiếm. Nơi đây chủ yếu là người dân tộc H' Mông có khoảng 120 hộ gia đình di cư từ Trung quốc sang từ thế kỷ thứ 17. Cuộc sống dựa vào sự du canh, du cư, canh tác nương rẫy và khai thác các sản phẩm từ rừng. Dân tộc H’Mông sống tại Bản Sin chải có một truyền thống văn hóa dân tộc, tập quán, tín ngưỡng tồn tại hàng ngàn đời nay, có một kho tàng về các điệu múa, các bài hát tiếng dân tộc, có hàng thủ công mỹ nghệ, vải, quần áo mang đặc trưng riêng của dân tộc H'Mông...

Hmong

   Do điều kiện địa lý, thủy văn và phong tục tập quán nên người dân ở đây chỉ canh tác một vụ lúa, nên thóc gạo không đủ trang trải quanh năm nhiều nhà đã phải chịu thiếu gạo khoảng 2-3 tháng/ năm, điều kiện sinh hoạt hết sức khó khăn. Người phụ nữ H’Mông cần cù chịu khó, chăm chỉ làm việc làm việc quanh năm, không khi nào được nghỉ tay, họ phải dậy sớm làm quần quật hết các nghề khác nhau như: chăn nuôi, thêu diệt hàng thổ cẩm trong đó hàng thổ cẩm được đánh giá rất cao về tính thẩm mỹ nhưng cuộc sống không thể thoát khỏi cái nghèo, cái đói. Cộng đồng người H'Mong luôn luôn du canh, du cư, họ luôn thay đổi địa điểm sinh sống và canh tác nên đã ảnh hưởng rất lớn đối với tài nguyên thiên nhiên.

  Cẩm nang DLNT Trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam-Nhật Bản, trong năm 2013 Tổng cục Du lịch đã giao Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch phối hợp cùng Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) biên tập và xuất bản cuốn “Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thôn Việt Nam” trên cơ sở đúc rút kết quả thực hiện các dự án hỗ trợ phát triển du lịch của Nhật Bản tại các vùng quê Việt Nam: Đường Lâm (Hà Nội), Phước Tích và Thanh Toàn (Thừa Thiên Huế), Hồng Phong (Hải Dương), Đông Hòa Hiệp (Tiền Giang), Tabhing (Quảng Nam) và 3 làng nghề Phù Lãng, Đình Tổ và Hòa Long (Bắc Ninh).

   Cẩm nang do TS. Hà Văn Siêu, Viện trưởng Viện nghiên cứu Phát triển Du lịch và ông Ando Katsuhiro, chuyên gia JICA đồng chủ biên với sự tham gia của các chuyên gia từ Tổng cục Du lịch, Hiệp hội Du lịch Việt Nam, các Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học KHXHNV, Đại học Quốc gia, Viện Nghiên cứu Phát triển ngành nghề Nông thôn Việt Nam, Tổ chức Cứu trợ và Phát triển Quốc tế Nhật bản (FIDR), Đại học Nữ Chiêu Hoàng Nhật Bản, Đại học Chiba, Đại học Tokai, Đại học Karashiki Sakuyo. 

   Cẩm nang là công cụ hỗ trợ hữu hiệu giúp các bên liên quan triển khai phát triển du lịch nông thôn một cách thiết thực, hiệu quả và bền vững. Vì vậy các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ sử dụng, tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo các bài học kinh nghiệm thực tiễn tại Cẩm nang, phát huy những giá trị tài nguyên du lịch các vùng quê để phát triển trở thành những điểm du lịch hấp dẫn; có kế hoạch phổ biến Cẩm nang đến các đối tượng liên quan: cơ quan quản lý (chính quyền địa phương, cán bộ quản lý cấp sở, phòng, trung tâm, ban quản lý...); tổ chức xã hội (hội nghề nghiệp, giáo hội, hội phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh...); doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.

   Trong thời gian tới, ngành Du lịch tiếp tục tăng cường các hoạt động hỗ trợ phát triển du lịch nông thôn gắn với Chương trình hành động quốc gia về du lịch và các chương trình, kế hoạch phát triển khác của Ngành. Trong đó, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và tư vấn kỹ thuật để triển khai cụ thể tại các địa phương. Hy vọng rằng với sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo gắn với đặc thù từng địa phương, bài học từ Cẩm nang này sẽ đem lại những kết quả thiết thực đối với phát triển du lịch tại các vùng nông thôn Việt Nam.    

   Ngày 13/5/2014, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Nguyễn Văn Tuấn đã ký ban hành công văn số 449/TCDL-VNCPTDL gửi các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc phổ biến áp dụng Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thôn Việt Nam. 

    Toàn văn công văn: CV449.pdf

 Toàn văn Cẩm nang quý độc giả có thể xem tại đây

Không thể phủ nhận những giá trị mà sản phẩm lưu niệm đã mang lại bởi nó cũng thể hiện một phần đặc trưng văn hóa Việt Nam. Vậy tại sao chúng ta không phát triển để góp phần quảng bá văn hóa, du lịch Việt Nam.

Xu hướng hiện nay, khách du lịch thường chọn những điểm đến không bị ô nhiễm môi trường, có sự gắn kết với sinh thái tự nhiên. Do đó, du lịch bền vững đã được du khách quan tâm và tạo nên trào lưu du lịch mới.

Quảng Nam là địa phương có nhiều lợi thế để phát triển các loại hình du lịch nằm trong nhóm phạm trù du lịch bền vững như: du lịch sinh thái, trách nhiệm, làng quê...

Bên cạnh vùng du lịch nghỉ dưỡng cao cấp và bất động sản ven biển, Quảng Nam cũng hướng sự quan tâm đến các loại hình du lịch làng quê, sinh thái, homestay, thủ công mỹ nghệ mang những bản sắc riêng biệt và độc đáo.

Trong thời gian qua, phát triển theo hướng du lịch cộng đồng và du lịch sinh thái đang đem lại cho Quảng Nam những hiệu quả rõ rệt trong cải thiện đời sống tại các làng, bản miền núi. Dự án “Du lịch dựa vào cộng đồng Cơ Tu” do Tổ chức Cứu trợ và phát triển quốc tế (FIDR) phối hợp với UBND huyện Nam Giang tổ chức tại xã Ta Bhing không giống như các dự án du lịch cộng đồng đã được triển khai trước đây, dự án tập trung vào mục tiêu chính là phát huy tính chủ động của cộng đồng với việc kết nối nhiều thành phần tham gia. Dù mới triển khai thử nghiệm hơn một năm (từ 5/2012 đến 6/2013) nhưng đã có 20 đoàn với số lượng 260 khách chủ yếu là khách châu Âu và Nhật Bản đến tham quan; tổng thu nhập của địa phương từ hoạt động du lịch này đạt hơn 93 triệu đồng.

Việc thành lập tổ hợp tác cùng tương trợ đã đem lại hiệu quả tích cực cho mô hình du lịch homestay Mỹ Sơn (thôn Mỹ Sơn, xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam). Các hộ làm du lịch trong làng tham gia tổ hợp tác dựa trên tinh thần tự nguyện. Trước đây, khách du lịch đến Mỹ Sơn chỉ trong thời gian ngắn rồi về Hội An hoặc Đà Nẵng, không có gì trải nghiệm ngoài khu đền tháp Mỹ Sơn. Khi mô hình tổ hợp tác ra đời đã tạo điều kiện để du khách lưu trú tại làng du lịch cộng đồng, cùng dân trong làng nấu ăn, thưởng thức những món ăn truyền thống Quảng Nam, giao lưu với người dân địa phương để tìm hiểu giá trị văn hóa bản địa. Đồng thời, qua đó giúp người dân địa phương có thêm thu nhập, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

LangDLCDBhoHoongkhaitruong1

Làng du lịch cộng đồng Bhơ Hôồng ngày khai trương

Nằm trong khuôn khổ của Festival Di sản Quảng Nam lần thứ 5, ngày 23/6/2013, Sở VHTTDL Quảng Nam đưa làng Bhơ Hôồng (xã Sông Kôn) và làng Đhơ Rồng (xã Ta Lu), huyện Đông Giang vào khai thác du lịch theo mô hình homestay. Cộng đồng dân tộc nơi đây với nụ cười thân thiện, mến khách cùng các sản phẩm dệt thổ cẩm đặc trưng… đã trở thành yếu tố thuận lợi để phát triển loại hình du lịch sinh thái, du lịch văn hóa.

Kế tiếp những thành công trong việc phát triển du lịch ở các làng bản, cộng đồng dân tộc, mới đây, UBND tỉnh Quảng Nam vừa phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch Làng du lịch sinh thái Đại Bình tại xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, cách thành phố Hội An 20 km. Làng Đại Bình sẽ là khu du lịch sinh thái kết hợp tham quan, tìm hiểu văn hóa truyền thống làng quê với quy mô 130 ha. Dự án này nhằm phát huy thế mạnh để khai thác, phát triển loại hình du lịch sinh thái kết hợp với tìm hiểu bản sắc làng quê Việt, góp phần giữ gìn văn hóa truyền thống làng quê và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân địa phương. Đồng thời, dự án gắn với quá trình bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển du lịch bền vững,  gắn kết các khu vực du lịch văn hóa – lịch sử Hội An, Duy Xuyên... Tổng mức kinh phí cho lập quy hoạch là hơn 1,7 tỷ đồng.

Việc hình thành các làng du lịch tại miền núi của Quảng Nam là một chủ trương lớn của tỉnh nhằm giúp các địa phương phát huy tiềm năng du lịch, tạo việc làm và thu nhập cho cư dân, phát triển kinh tế.

Hương Lê

Nguồn: TITC

 

“Di sản và du lịch có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ. Du lịch không chỉ dựa vào di sản để phát triển, mà còn mang sứ mệnh cao cả đó là tôn vinh giá trị di sản đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản đã được kết tinh và gìn giữ”- ông Nguyễn Mạnh Cường - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch khẳng định.

Thứ năm, 11 Tháng bẩy 2013 11:15

Làng du lịch cộng đồng - hướng đi mới ở Quảng Nam

Tác giả :

Dự án “Tăng cường hoạt động du lịch tại các huyện sâu trong đất liền tỉnh Quảng Nam” do Chính phủ Luxembourg tài trợ và các đối tác gồm Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cùng các Sở, Hội đoàn thể trên địa bàn tỉnh Quảng Nam như Văn hóa-Thể thao và Du lịch, Lao động-Thương binh và Xã hội, Công thương, Hiệp hội du lịch và các địa phương thực hiện từ tháng 6/2011.

Thứ tư, 26 Tháng sáu 2013 00:00

Hội An chia sẻ kinh nghiệm làm du lịch di sản

Tác giả :

Hội An – “điểm sáng” về du lịch di sản đã chia sẻ những kinh nghiệm làm du lịch.

Trong khi việc tổ chức khai thác du lịch tại nhiều điểm di sản chưa thực sự hiệu quả, chưa tương xứng với giá trị thì việc khai thác di sản Hội An trở thành điểm sáng. Nhân rộng cách làm hiệu quả như Hội An cũng là một hướng đi mà các địa phương cần nghiên cứu.

HoiAn-TITC2013

Những con số ấn tượng

Th.S Nguyễn Quý Phương - Vụ trưởng Vụ Lữ hành (Tổng cục Du lịch) nhận định: “Tổng quan tình hình phát triển du lịch cho thấy, tại các địa phương có di sản văn hóa thế giới, lượng khách du lịch có sự tăng trưởng rõ rệt qua các năm. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, mức độ phát triển về du lịch thể hiện qua lượng khách có sự khác biệt. Ở Quảng Nam và Thừa Thiên Huế là hai địa phương có sự tăng trưởng khách cao so với các địa phương khác. Với Huế, giai đoạn 2000- 2012, lượng khách tăng khoảng 5 lần cùng với tổng thu nhập từ du lịch tăng khoảng 10 lần. Quảng Nam là trường hợp đặc biệt, ngay sau khi được công nhận 02 di sản thì lượng khách đến năm sau đó đã tăng khoảng 4 lần, giai đoạn 2000-2012 lượng khắc quốc tế tăng khoảng 14 lần, khách nội địa tăng khoảng 50 lần, tổng thu nhập từ du lịch tăng khoảng 35 lần. Quảng Nam là điển hình cho việc khai thác giá trị di sản văn hóa phục vụ cho phát triển”.

Báo cáo của Sở VHTTDL Quảng Nam cũng cho biết: Năm 2012, Quảng Nam đón trên 2,8 triệu lượt khách du lịch, tăng 10,7% so với năm 2011, thu nhập xã hội từ du lịch đạt trên 3,5 nghìn tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng thu nhập du lịch bình quân gần 30%/năm trong thời kỳ 2008- 2012, đóng góp khoảng 10% vào GDP của toàn tỉnh.

6 tháng đầu năm 2013, Quảng Nam đã đón hơn 1,6 triệu lượt khách, tăng 19, 58% so với cùng kỳ, thu nhập từ du lịch đạt 1.859 tỷ đồng, tăng 27.84% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, theo ông Nguyễn Ngọc Quang - Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Quảng Nam, Hội An đóng vai trò quan trọng, đồng thời cũng là điển hình trong việc giải quyết tốt vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di sản, điều hòa lợi ích của cộng đồng với các bên tham gia trong hoạt động du lịch, xây dựng được môi trường du lịch văn minh, lịch sự, thân thiện với du khách.

Hội An không chỉ là thương hiệu du lịch của Quảng Nam mà còn là điểm đến của miền Trung Việt Nam nói riêng và điểm đến Việt Nam nói chung trên bản đồ du lịch thế giới. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều tạp chí du lịch nước ngoài như Wanderlust (Anh), Condé Nast Traveler (Mỹ), Smart Travel Asia đã bình chọn cho Hội An các danh hiệu: Thành phố được yêu thích nhất trên thế giới; 1 trong 10 thành phố du lịch tốt nhất; Điểm du lịch hấp dẫn nhất châu Á...

Ngày 18/6 vừa qua, 4 điểm đến của Việt Nam là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hội An, Hạ Long được nhận giải thưởng Asia Destination Awards 2013 của website du lịch TripAdvisor bình chọn. Hội An đứng thứ 17 trong 25 điểm du lịch hấp dẫn nhất của châu Á.

Để có được sự thành công này, Hội An có bí quyết gì đặc biệt? Xin thưa, không. Đặc biệt là ở chỗ, Hội An đã có được sự đồng thuận trong từng hành động của nhân dân trong việc xem công tác bảo tồn di sản là hàng đầu khi khai thác di sản.

Khai thác phải xem trọng bảo tồn

Khẳng định tiềm năng và lợi thế về du lịch, đồng thời nhận thức rõ giá trị của những di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận (Đô thị cổ Hội An, Khu di tích Mỹ Sơn và Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm), ông Nguyễn Ngọc Quang cho biết: Những năm qua, Quảng Nam luôn xem bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá và phát triển du lịch bền vững là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.

Cùng với công tác bảo tồn, tôn tạo, trùng tu các giá trị di sản văn hóa vật thể là gìn giữ các phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng và văn nghệ dân gian mang đậm chất văn hóa xứ Quảng. Song song đó, tỉnh Quảng Nam cũng huy động cộng đồng tham gia vào công tác bảo tồn các giá trị di sản văn hóa. “Công tác phát huy giá trị di sản văn hoá gắn với phát triển du lịch đã đạt được một số kết quả tích cực, tạo dựng được thương hiệu du lịch Quảng Nam mà đặc biệt là phố cổ Hội An và Khu di tích Mỹ Sơn”, ông Quang khẳng định.

Bà Đinh Thị Thu Thuỷ, Trưởng phòng Thương mại - Du lịch, UBND TP.Hội An cho biết: Thành phố Hội An đã quyết định hướng đi “Phát triển du lịch Hội An bền vững trên nền tảng gắn kết văn hoá và sinh thái” từ những thực tiễn trong quá trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với du lịch, như: Phát triển du lịch dựa trên cơ sở bảo tồn văn hoá và môi trường; Phát triển sản phẩm du lịch gắn với di sản; Xây dựng sản phẩm du lịch văn hoá gắn với văn hoá du lịch; Quy hoạch hướng tới sự phát triển bền vững; Khoanh vùng di sản và giảm tốc quá trình đô thị hoá trong khu vực di sản; Giảm thiểu tốc độ thương mại hoá và tăng cường thông tin để nâng cao nhìn nhận ý thức của người dân và du khách… “Tôn trọng và nghiêm túc thực hiện công tác bảo tồn các giá trị văn hoá, giá trị sinh thái, bảo vệ môi trường được coi là quyết định sống còn của du lịch”, bà Thuỷ khẳng định.

Đồng tình với quan điểm này, đại diện Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, bà Lê Thị An Hoà cho rằng, cần phải đưa các di sản văn hoá vào phát triển du lịch nhưng vẫn bảo đảm được rằng, du lịch sẽ không làm ảnh hưởng, xâm hại tới di sản. Do đó, bên cạnh việc đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhà quản lý, cộng đồng và người làm du lịch thì rất cần chủ trương định hướng phát triển những hoạt động du lịch lựa chọn, có trách nhiệm.

Ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch đặt ra yêu cầu di sản phải được quản lý hiệu quả, đem lại kết quả tích cực cho cả du lịch và di sản. Bên cạnh việc xây dựng các sản phẩm du lịch chất lượng cao, vấn đề bảo vệ di sản, tạo mối quan hệ lợi ích hài hoà giữa các bên tham gia khai thác và bảo vệ di sản phải được đặt lên hàng đầu.

Chỉ có bảo vệ di sản một cách tốt nhất thì di sản mới đem lại lợi ích cho những người khai thác di sản. Đây thiết nghĩ là bài học đơn giản nhưng không phải ở nơi nào cũng đã học tập và làm theo được một cách hiệu quả như với Hội An./.

Hà An

Nguồn: toquoc.vn