SCREEN

Cpanel

20Tháng tư2018

Thứ hai, 25 Tháng mười hai 2017 14:21

Một số kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững trên thế giới

Tác giả :

  UNWTO Du lịch bền vững là phương thức du lịch cân nhắc đầy đủ những tác động hiện tại và tương lai về kinh tế, xã hội và môi trường, trong khi đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, ngành công nghiệp du lịch, môi trường và cộng đồng địa phương. (UNWTO, 2005)

   Du lịch bền vững có thể được hiểu là “Du lịch quan tâm đầy đủ tới tác động hiện tại và tương lai đối với kinh tế, xã hội và môi trường, lưu ý tới nhu cầu của khách du lịch, ngành Du lịch, môi trường và các cộng đồng địa phương”.
  Thực hiện phát triển du lịch bền vững có nghĩa là đạt được cân bằng trong số 4 trụ cột dưới đây.
   - Trụ cột Kinh tế được xác định là tạo ra phồn vinh ở các cấp độ khác nhau của xã hội và lưu ý đến hiệu quả chi phí cho tất cả các hoạt động kinh tế.
   - Trụ cột Văn hóa - Xã hội dựa trên sự tôn trọng nhân quyền và cơ hội bình đẳng cho tất cả các thành viên trong xã hội cần được phân chia bình đẳng về lợi ích.
   - Trụ cột Môi trường liên quan tới bảo tồn và quản lý tài nguyên, bao gồm tài nguyên thiên nhiên và văn hóa, quản lý đa dạng sinh học và rác thải.
   - Trụ cột Bao trùm hỗ trợ các trụ cột Kinh tế, Văn hóa - Xã hội và Môi trường thông qua chính phủ, cơ sở hạ tầng…
   Dưới đây phân tích một số kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững tại một số quốc gia trên thế giới để có thể thấy cách thức phát triển là khác nhau trong từng trường hợp nhưng đều tuân thủ những nguyên tắc phát triển chung.
   1. Phát triển du lịch bền vững tại Đài Loan
   Tại Đài Loan, từ khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nhiều sản phẩm bị cạnh tranh bởi thị trường xuất khẩu truyền thống như Nhật. Nông dân bắt đầu việc mở rộng sang một lĩnh vực tạo thu nhập mới bằng việc chuyển đất sản xuất của họ sang du lịch và nông trại giải trí. Du lịch giải trí tại nông thôn đã trở thành một hình thức quản lý nông nghiệp mới ở Đài Loan đã giúp nông dân bức phá qua những khó khăn trước mắt do quy mô sản xuất nhỏ. Hai mục tiêu chính cho loại hình này là phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí cho cộng đồng và nâng cao thu nhập cho người nông dân.

kinh nghiem-hoangmai-2017-1

   Nhằm đảm bảo cho người dân và người kinh doanh thu được lợi nhuận từ chính mô hình này, Hội phát triển nông trại nghĩ dưỡng Đài loan được thành lập vào năm 1998 với mục tiêu là duy trì văn hóa nông thôn, kết hợp giữa nguồn tài nguyên nông nghiệp và du lịch nghĩ dưỡng, giáo dục, hiệp hội này đã trở thành cầu nối giữa người sản xuất, người kinh doanh, chính phủ, giáo dục và du lịch. Qua nhiều năm phối hợp hoạt động, có thể nói rằng ngành công nghiệp này đã có sự kết hợp thành công. Nó đã không chỉ cung cấp một môi trường lý tưởng cho du lịch sinh thái, thúc đẩy ngành thực phẩm cho sức khỏe và thực phẩm hữu cơ mà còn tạo nên nét văn hóa đặc thù cho việc phát triển các làng nghề nông thôn và tiếp tục phát triển các thế hệ sau. Trong nỗ lực đó, du lịch nghĩ dưỡng đã tiếp nhận hơn 10 triệu du khách. Hơn 100 tỷ Đài tệ (gần 600 ngàn tỷ VN Đồng) và 20,000 công việc mới được tạo ra hàng năm.
   Theo như Cơ quan quản lý nông nghiệp Đài Loan (Council of Agriculture of Taiwan- COA) khoảng 2.000 ha đất đã chính thức chuyển qua nông trại và hơn 180 nông trại phục vụ cho giải trí đã được thành lập. Ngành này đã góp phần thu hút con số tăng trưởng của ngành du lịch, đặc biệt tạo sản phẩm nông nghiệp để làm quà cho du khách giúp gia tăng lợi nhuận ngành công nghiệp. Sự phát triển của những “cửa hàng sản phẩm” với mục tiêu trưng bày những công nghệ, thiết kế và đặc điểm của sản phẩm đặc trưng của địa phương. Hàng năm cơ quan nông nghiệp Đài loan đã tổ chức những hội chợ hàng hóa nông nghiệp, để giới thiệu những sản phẩm cải tiến chất lượng và bao bì. Theo COA, giá trị sản phẩm đầu ra của các cửa hàng này gồm có rựu, gạo chất lượng cao, sản phẩm từ tre, và những sản phẩm giá trị cao từ vật nuôi và thủy sản sẽ đạt khoảng 12,3 tỷ Đài tệ (khoảng 7.195,5 tỷ VNĐ) vào năm 2012. Hơn nữa, 4.500 cơ hội việc làm sẽ được tạo bởi ngành công nghiệp trong 4 năm.
Những loại hình du lịch giải trí nông thôn của Đài loan gồm các loại hình chủ yếu như trãi nghiệm nghĩ dưỡng, trãi nghiệm giải trí, trãi nghiệm hương vị, khám phá những hiểu biết mới.
   2. Phát triển du lịch bền vững tại Hàn Quốc
   Nhận thấy vai trò và ý nghĩa của phát triển du lịch bền vững, Chính phủ Hàn Quốc đã sớm ban hành nhiều chính sách để thúc đẩy du lịch bền vững tại nước này. Tháng 8 năm 2008, chiến lước “các-bon thấp, tăng trưởng xanh” đã được tung ra như một tầm nhìn mới cho sự phát triển dài hạn của Hàn Quốc. Năm 2009, “Luật cơ bản về tăng trưởng xanh” có hiệu lực, cũng trong năm “Kế hoạch 5 năm cho tăng trưởng xanh” được công bố để hướng tới một con đường cho tương lai của Hàn Quốc là “tăng trưởng xanh”. Bên cạnh đó, còn có thể kể đến rất nhiều chính sách phát triển bền vững khác như: Chiến lược Phát triển Công nghiệp năng lượng xanh (09/11/2008), Quy hoạch Tổng thể ứng phó với biến đổi khí hậu (ngày 19 tháng 9 năm 2008), Dự án Tăng trưởng Xanh Mới (ngày 16 tháng 1 năm 2009), Chiến lược Xúc tiến Tăng trưởng mới (13 tháng Một năm 2009), Các biện pháp toàn diện về Công nghệ xanh R & D (13 tháng 1 năm 2009).

kinh nghiem-hoangmai-2017-2

   Về kế hoạch 5 năm cho tăng trưởng xanh đã vạch ra tầm nhìn, 3 chiến lược và 10 chính sách trực tiếp với tầm nhìn: Mô hình một quốc gia xanh – thông qua việc tạo ra sự hài hòa đạo đức giữa môi trường và kinh tế. Trong đó, 3 chiến lược là: Các biện pháp đối phó với biến đổi khí hậu và độc lập về năng lượng; Tạo ra các động lực tăng trưởng mới; Cải thiện chất lượng cuộc sống và tình trạng đất nước. Và 10 chính sách trực tiếp:
   - Chuyển đổi mô hình phát triển hướng tới một xã hội với lượng phát thải nhà kính thấp
   Tối đa hóa hiệu quả sinh thái trong việc sử dụng nguồn lực, giảm thiểu tác động môi trường. Áp dụng các biện pháp và chính sách các-bon thấp và thân thiện sinh thái để tránh tình trạng suy thoái môi trường từ các hoạt động tăng trưởng kinh tế.
   - Công nghệ xanh là động cơ tăng trưởng tương lai
   Công nghệ xanh sẽ được khuyến khích và áp dụng tối đa để giảm phát thải khí nhà kính và để tạo ra động lực tăng trưởng mới. Hội tụ giữa các nền công nghệ tiên tiến nhất để phát triển công nghệ năng lượng tái tạo, năng lượng hóa thạch sạch (IGCC, CGS), bao gồm các thành phần của năng lượng mặt trời và mặt trời nhân tạo. Áp dụng tiêu chuẩn toàn cầu về công nghệ xanh và tăng tính cạnh tranh quốc tế.
   - Tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và hướng tới là một nước xuất khẩu mới về ngành công nghiệp xanh
   Các ngành công nghiệp dựa trên tri thức sẽ thay thế các ngành công nghiệp nhà máy chuyên sâu và là động cơ tăng trưởng mới trong thế giới công nghiệp. Ngành công nghiệp thân thiện với môi trường sẽ được chăm chút cho ngành công nghiệp trong tương lai. Nâng cao hiệu quả năng lượng và ngành công nghiệp thân thiện môi trường. Thúc đẩy sản xuất các sản phẩm sinh thái như xe hơi sinh thái, chất bán dẫn sinh thái và các loại vải sinh thái để đem thu nhập quốc gia khoảng 30000 USD một năm trong lĩnh vực này.
   - Tạo việc làm xanh (công ăn việc làm từ công nghiệp xanh)
   Việc làm mới sẽ được tạo ra bởi năng lượng tái tạo và các chương trình cải thiện môi trường. Chỉ riêng ngành công nghiệp tái tạo dự kiến sẽ tạo ra 950000 việc làm mới trong năm 2030. Xây dựng nền giáo dục đào tạo đội ngũ chuyên gia cao cấp “xanh” thông qua chuyển đổi ngành công nghiệp hiện có vào ngành công nghiệp và giáo dục xanh.
   - Chuyển đổi sang mô hình vận tải xanh, xây dựng và kiến trúc xanh, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch đô thị sinh thái
   Cải thiện toàn bộ hệ thống trên sẽ dẫn đến chất lượng cuộc sống và môi trường cao hơn hiện tại. Khả năng cạnh tranh của các thành phố sẽ được tăng cường bằng cách thực hiện quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch đô thị sinh thái, kết hợp với công nghệ năng lượng, môi trường, giao thông vận tải cải thiện chất lượng không khí và mở rộng các vùng sinh thái. Thiết kế và xây dựng thành phố không có khí thải cacbon, thúc đẩy các tòa nhà văn phòng xanh, các doanh nghiệp xanh. Nâng cao hiệu quả của vận tải đường bộ. Mở rộng đầu tư và phát triển công nghệ về giao thông công cộng và hệ thống đường sắt. Mở rộng làn đường xe đạp.
   - Cuộc cách mạng sống xanh ở Hàn Quốc
   Từ mô hình tiêu thụ đến phong cách sống nói chung sẽ được thiết lập trên toàn quốc. Mỗi ngày đều áp dụng thực hành carbon thấp như chiến dịch công cộng để nâng cao giá trị sinh thái trong xã hội (phong trào sống và tiêu thụ sinh thái). Chính sách áp dụng trên toàn quốc bằng các biện pháp như một quy định chặt chẽ về lượng khí thải CO2 của xe và hệ thống nhãn hiệu sinh thái, quản lý cả hai phía từ cung và cầu.
   - Giáo dục và chính sách văn hóa xanh
   Các chiến dịch văn hóa xanh sẽ được phát huy rộng rãi, sử dụng phương tiện truyền thông và giáo dục như các kênh chính thức. Ý tưởng xanh sẽ là trung tâm của nền văn hóa và du lịch.
   - Mô hình thuế xanh và hỗ trợ tài chính chủ động
   Hệ thống thuế hiện hành sẽ được sửa đổi và kết hợp với các yếu tố thân thiện hơn, bên cạnh đó chính phủ cũng hỗ trợ tài chính để thúc đẩy đầu tư vào các ngành công nghiệp xanh. Khuyến khích chuyển đổi sang tiêu thụ các-bon thấp và các mô hình sản xuất xanh theo nguyên tắc nếu gây ô nhiễm phải trả tiền theo nguyên tắc nghiêm ngặt, chuyển dịch cơ cấu giá bao gồm chi phí môi trường và xúc tiến các sản phẩm xanh.
   - Hàn Quốc là một quốc gia tiên phong trên toàn cầu về tăng trưởng kinh tế xanh
Hình ảnh quốc gia và sức mạnh thương hiệu của Hàn Quốc sẽ được tăng cường thông qua việc thúc đẩy tăng trưởng xanh. Hàn Quốc sẽ trở thành quốc gia xuất khẩu ý tưởng xanh, công nghệ xanh, tri thức xanh cho nhiều nước trên thế giới trong tương lai gần. Thương hiệu Hàn quốc là mục tiêu quốc gia.
   - Đóng góp cho cộng đồng quốc tế
   Hàn Quốc sẽ tích cực tham gia các cuộc đàm phán sau năm 2012 và thực hiện vai trò lãnh đạo xanh. Hàn Quốc sẽ theo đuổi những nỗ lực ngoại giao tích cực trong lĩnh vực môi trường bao gồm cả những nỗ lực để chủ tọa các tổ chức hội nghị quốc tế về môi trường tại Hàn Quốc. Đồng thời thực hiện hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) ở các nước đang phát triển.
   Như vậy, vấn đề môi trường sinh thái được chính phủ Hàn quốc coi là trọng tâm hướng tới ngành công nghiệp tăng trưởng xanh và đối phó với biến đổi khí hậu và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Chiến lược Tăng trưởng xanh của Hàn Quốc là tầm nhìn quốc gia toàn diện, bao gồm cải cách năng lượng và cũng như tạo công ăn việc làm, hồi sinh môi trường, tăng cường năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và thay đổi trong phong cách sống của mỗi công dân. Tăng trưởng xanh là tăng trưởng bền vững làm giảm khí nhà kính và ô nhiễm không khí, là động cơ thúc đẩy kinh tế mới. Chiến lược tăng trưởng xanh là một lựa chọn khôn ngoan cho tương lai toàn cầu của Hàn Quốc và các quốc gia khác

 Hoàng Mai

  dlhanoi2017 Hà Nội, trái tim của cả nước, nơi tập trung các cơ quan đầu não về kinh tế, chính trị, văn hóa, nơi diễn ra các hoạt động chính trị chủ yếu của đất nước. Thủ đô hơn 1000 năm tuổi với lịch sử lâu đời và truyền thống văn hóa đa dạng và giàu bản sắc, luôn là sự lựa chọn hàng đầu của du khách trong và ngoài nước. Hà Nội, trung tâm văn hóa – chính trị - kinh tế - xã hội, là thủ đô của cả nước. Đây cũng là một trong những địa  bàn tập trung nhiều giá trị tài nguyen du lịch tự nhiên và nhân văn của vùng Bắc Bộ, trong đó, các giá trị đặc trưng về di sản văn hóa, lịch sử, nghệ thuật, truyền thống, lễ hội, ẩm thực... đặc biệt hấp dẫn du khách.

   Trong những năm qua, với vị thế là thủ đô - “thành phố vì Hòa Bình” thì lượng khách du lịch đến với Hà Nội không ngừng tăng: năm 2011 lượng khách đến Hà Nội là 13.547.000 lượt khách đến năm 2016 là 21.830.906 lượt khách. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2011-2016 đạt 10%/năm (trong đó khách quốc tế tăng 14%/năm, khách nội địa tăng 9,2%/năm). So sánh tốc độ tăng trưởng cũng trong giai đoạn này với một địa phương có du lịch phát triển như Đà Nẵng là 18,28%, Khánh Hòa là 15,7%, Tp. Hồ Chí Minh 15,3%, thì tốc độ tăng trưởng khách của du lịch Hà Nội là khá khiêm tốn. Tuy vậy, so với các địa phương khác, số lượng khách đến Hà Nội vẫn đảm bảo tăng trưởng ở mức khá cao. 

 

 

Biểu đồ 1: Số lượng khách du lịch đến Hà Nội giai đoạn 2011-2016

cocau2017-0

 

 

 

Nguồn: Sở Du lịch Hà Nội

1. Về khách du lịch quốc tế

Khách quốc tế đến Hà Nội từ nhiều vùng, lãnh thổ trên thế giới, trong đó khách từ các thị trường có khả năng chi trả cao như Tây Âu, Đông Bắc Á, Úc, Bắc Mỹ...; 40% số khách quốc tế du lịch Việt Nam có đến Hà Nội. Khách quốc tế đến Hà Nội còn thấp so với Thủ đô một số nước trong khu vực, chỉ bằng khoảng 1/6 lượng khách đến Bangkok, 1/3 lượng khách đến Singapore và Kuala Lumpur.1

 

Top 10 thị trường khách quốc tế trọng điểm đến Hà Nội giai đoạn 2011- 2016 không có nhiều biến động, bao gồm các thị trường: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp, Mỹ, Thái Lan, Đức, Malaysia, Singapore, Thái Lan.

1: Năm 2015: Băng Cốc (Thái Lan): 19,3 triệu lượt khách, Kuala Lumpur (Malaysia) 23,1 triệu lượt khách. Singapore: 15,231 triệu lượt khách;

Biểu đồ 2: Cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Hà Nội năm 2016

cocau2017-1

 

                                                                          Nguồn: Sở Du lịch Hà Nội

 

          Khách du lịch quốc tế đến Thủ đô với nhiều mục đích khác nhau, trong đó với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng chiếm khoảng 80%; còn lại là các mục đích khác như: khách công vụ, thương mại, hội nghị hội thảo, thực hiện các nhiệm vụ của Chính phủ, thăm thân,... chiếm 20%. Khách đến Hà Nội có lưu trú ngày càng tăng, với khoảng 2,9 triệu người năm 2016, tăng 23% so với năm 2015. Lượng khách lưu trú tại Hà Nội tăng mạnh trong thời gian qua cho thấy năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Thủ đô đã tăng lên.

 

          Bảng 1: Số liệu khách du lịch quốc tế đến Hà Nội và cả nước

 

Năm

Việt Nam

Hà Nội

Tỷ lệ % Hà Nội so Việt Nam

2010

5.049.855

1.700.000

33.66%

2011

6.014.032

1.887.000

31.4%

2012

6.847.678

2.100.000

30.67%

2013

7.572.352

2.580.900

34.08%

2014

7.874.312

3.010.000

38.1%

2015

7.943.651

3.263.743

41%

2016

10.012.735

4.020.306

40,1%

 

                                               Nguồn: Tổng cục thống kê, Sở Du lịch Hà Nội

 

Theo Quy hoạch phát triển du lịch thành phố Hà Nội, trong thời gian tới, du lịch Hà Nội vẫn tập trung đẩy mạnh, thu hút khách du lịch quốc tế ở các thị trường truyền thống: Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Trung Quốc, Đài Loan, Đức, Pháp, khu vực Bắc Mỹ, ASEAN…; Mở rộng thu hút khách du lịch đến từ các thị trường mới: Trung Đông và Bắc Âu… Đồng thời, phát triển thị trường nội địa thông qua việc tăng cường liên kết giữa Hà Nội với các vùng, miền, địa phương trong cả nước.

 

2. Về khách du lịch nội địa

 

Hà Nội là trung tâm phân phối khách chủ yếu của vùng phía Bắc, đặc biệt đối với các tỉnh khu vực đồng bằng sông Hồng. Khách du lịch nội địa đến Hà Nội để du lịch và trung chuyển đi du lịch ở các tỉnh lân cận. Thị trường khách du lịch nội địa đến Hà Nội chiếm tỷ trọng lớn hàng đầu cả nước, với lượng khách trung bình hàng năm chiếm trên 30% tổng lượng khách du lịch nội địa của Việt Nam. Năm 2011, Hà Nội đón 11.660.000 lượt, đến năm 2016 đón 17.810.000 lượt khách (tăng 153% so với năm 2011).

 

Khách du lịch nội địa đến Hà Nội với nhiều mục đích khác nhau và từ khắp các tỉnh, thành phố của cả nước với mục đích du lịch thuần tuý, du lịch kết hợp với các mục đích khác như đi công tác, thăm thân, chữa bệnh và mua sắm.

 

Biểu đồ 3: Khách du lịch nội địa đến Hà Nội giai đoạn 2011-2016

cocau2017-2

                                                                      Nguồn: Sở Du lịch Hà Nội

     Có thể thấy, du lịch Hà Nội trong giai đoạn 2011^2016 đã thu hút lượng lớn khách du lịch trong nước và quốc tế, một số lý do phải kể đến: Hà Nội có vị trí và địa thế đẹp, thuận lợi, là Thủ đô, trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học công nghệ hàng đầu cả nước; Là đầu mối giao thông quan trọng của cả nước, có sân bay quốc tế Nội Bài; Sự hấp dẫn về tài nguyên du lịch với các giá trị nổi bật về tài nguyên du lịch nhân văn đặc biệt là các di tích lịch sử - văn hóa, các làng nghề truyền thống, các lễ hội... Được nhiều tạp chí du lịch có uy tín trên thế giới đánh giá cao là “điểm hấp dẫn thứ tư trên thế giới” hay “một trong những thành phố nên đến trong cuộc đời” như Trip Advisor,...

   Tuy vậy, để phát triển xứng đáng với tiềm năng du lịch và vị thế là Thủ đô của cả nước, du lịch Hà Nội cần phải tiếp tục phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ khách du lịch, tăng cường các chương trình xúc tiến quảng bá du lịch và đặc biệt nâng cao chất lượng và nâng tầm đẳng cấp hệ thống sản phẩm du lịch hiện có./. 

 Thanh Hiền

  nc-bvmt-2017-11. Kinh nghiệm xây dựng mô hình bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch trên Thế giới

1.1. Mô hình ma trận hệ sinh thái và du lịch (Ecology-Tourism Matrix, ETM)
   Mô hình ETM được áp dụng vào khu du lịch đặc biệt Munnar, Kerala (Ấn Độ) . Mục đích chủ yếu khi sử dụng mô hình ETM là nhằm đưa ra kế hoạch phát triển du lịch dựa vào bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên (hay cân bằng giữa phát triển du lịch và bảo vệ môi trường) cho khu du lịch đặc biệt Munnar (Munnar STZ).
   Mô hình ETM thực chất là việc sử dụng kết hợp hai chỉ số: nhạy cảm sinh thái (ESI) và hấp dẫn du lịch (TAI) để đánh giá từng điểm du lịch (điểm hấp dẫn/hoạt động khác nhau) trong khu du lịch. Điểm du lịch (nodes) trong mô hình ETM được hiểu là điểm có khả năng thu hút khách du lịch, có ý nghĩa bảo tồn và ý nghĩa du lịch. Việc nhận dạng các điểm được thực hiện thông qua bảng kê danh sách tài nguyên du lịch, được đưa ra thảo luận nhóm, có tham khảo ý kiến của chuyên gia và được điều tra cụ thể. Ngoài ra, trong mô hình ETM còn có các thành phố/thị xã chủ yếu (Hubs) nằm trong vùng, tiểu vùng của khu du lịch. Nodes và Hubs được kết nối với nhau theo nguyên tắc “Trục bánh xe và nan hoa”. Bên cạnh đó, trong mô hình ETM còn định rõ vùng và các thành phần chiến lược cấu thành khu du lịch đặc biệt (như: vùng, tiểu vùng và thành phần kết nối) như sơ đồ dưới đây (U.V Jose, Muhammed, Vijayakumar S., Sonia Joes, 2009).

   Mục tiêu phát triển du lịch bền vững đã được các quốc gia trên thế giới hướng tới từ thập niên 90 của thế kỷ XX. Du lịch bền vững được hiểu là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển hoạt động du lịch trong tương lai. Phát triển du lịch bền vững giảm thiểu các tác động xấu của du lịch đồng thời góp phần vào công tác bảo tồn các giá trị tốt cho cộng đồng địa phương, cả về kinh tế và xã hội. Đại hội đồng Liên hợp quốc (UNGA/GA) tuyên bố năm 2017 là “Năm quốc tế về Du lịch bền vững vì sự phát triển” nhằm xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn du lịch nói riêng và cho loài người, hành tinh, hòa bình và thịnh vượng nói chung.

   Việt Nam có nhiều tiềm năng du lịch, đã và đang phát triển nhiều loại hình du lịch góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Giai đoạn gần đây, để đảm bảo phát triển du lịch một cách bền vững, tại một số địa phương, điểm đến, đã có nhiều hình thức, hành động thiết thực điển hình như Đà Nẵng – Thành phố nhận được nhiều danh hiệu và có mức tăng trưởng về du lịch tương đối bền vững, đáng ghi nhận (1). Để đạt những kết quả nổi trội đó, cơ quan quản lý nhà nước; doanh nghiệp du lịch; cộng đồng dân cư Đà Nẵng đã cùng “chung sức, chung lòng” hướng tới mục tiêu chung: coi khách du lịch là tâm điểm, làm cho khách thỏa mãn và có ý định quay lại trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn, tu tạo các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển trong tương lai, cụ thể:

2017-dlvn    Trong giai đoạn hiện nay, ngành Du lịch đang tích cực nghiên cứu giải pháp giữ vững mức tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đạt ít nhất 30%/năm, khách du lịch nội địa tăng 12%/năm[1]  và tạo bước đột phá trong việc thu hút khách du lịch, đạt mục tiêu đón 17-20 triệu lượt khách du lịch quốc tế, 82 triệu lượt khách du lịch nội địa vào năm 2020[2]. Bên cạnh đó, bài toán về quỹ phát triển du lịch nhằm hỗ trợ công tác xúc tiến quảng bá (XTQB), mở rộng thị trường, đào tạo nguồn nhân lực… đang cần được giải đáp kịp thời. Ngân sách quảng bá du lịch của Việt Nam là 2 triệu USD/năm, thấp nhất trong ASEAN. Trong khi mỗi năm Thái Lan chi 69 triệu USD cho công tác XTQB và thu về hơn 32,5 triệu lượt khách quốc tế[3], Xinh-ga-po (80 triệu USD/năm), Ma-lai-xi-a (105 triệu USD/năm) thì việc nghiên cứu, nắm bắt cơ hội tiếp thị trong điều kiện mức kinh phí hạn chế là điều hết sức quan trọng.

   DulichmoinctdI. Nghiên cứu một số điển hình

   Năm 2017, ngành Du lịch Việt Nam ghi nhận 2 sự kiện quan trọng là sự ra đời của Nghị quyết số 08-NQ/TW do Bộ Chính trị ban hành ngày 16/1/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và Luật Du lịch sửa đổi (sau đây gọi là Luật Du lịch) được Quốc hội chính thức thông qua ngày 19/6/2017 và có hiệu lực vào 1/1/2018. Trong mối tương quan giữa 3 nhiệm vụ then chốt ngành Du lịch đã thực hiện trong nhiều năm qua dưới sự hỗ trợ của dự án EU-ESRT, đó là: Xây dựng thể chế, chính sách; Nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển sản phẩm; và Đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nhiều sản phẩm du lịch mới đã thu hút sự quan tâm của toàn ngành và của xã hội, đã có tác động tích cực góp phần làm đa dạng sản phẩm du lịch của Việt Nam, và đã khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và văn hóa bản địa và thế mạnh của địa phương. Trong bài nghiên cứu - trao đổi này, tôi lựa chọn một số sản phẩm du lịch mới hiện nay để nghiên cứu như những điển hình tốt về du lịch trong nước để đưa ra một số nhận định đối với sự phát triển sản phẩm du lịch mới nói chung trong tương lai.

   1. Thái Lan – Văn hóa Thái là lợi thế cạnh tranh trong phát triển sản phẩm du lịch


Asean mai 2 
Chùa Wat Phra That Doi Suthep - Chiang Mai Thái Lan

   Thái Lan là nước có ngành du lịch phát triển mạnh ở châu Á. Truyền thống văn hóa và sự mến khách của nhân dân Thái Lan là yếu tố quan trọng góp phần tăng cường thu hút khách du lịch đến với đất nước này. Ngành du lịch là ngành thu được nguồn ngoại tệ chủ yếu và cao hơn các ngành sản xuất khác của Thái Lan. Thị trường khách quốc tế chủ yếu của Thái Lan là các nước trong khối ASEAN, châu Á, châu Âu như Pháp, Đức, Bỉ…
   Cơ quan Du lịch Quốc gia Thái Lan, gọi tắt là TAT là cơ quan quản lý nhà nước cao nhất, có trách nhiệm xúc tiến và phát triển du lịch Thái Lan. TAT là cơ quan trực thuộc Chính phủ, hoạt động độc lập. Đứng đầu Cơ quan Du lịch Quốc gia là Thống đốc. Giúp việc cho Thống đốc có Văn phòng Thống đốc, Hội đồng Tư vấn, Viện Đào tạo Khách sạn và Du lịch, Văn phòng Kinh doanh Du lịch Bangkok, Ban Quản lý hoạt động khu du lịch và Thanh tra Tài chính nội bộ… Sự hoạt động của TAT rất đạt hiệu quả, bởi có chiến lược và biết tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu thị trường và xúc tiến quảng bá, sau đó đưa ra định hướng và những giải pháp cụ thể cho các doanh nghiệp thực hiện. TAT luôn phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành có liên quan đến du lịch để chỉ đạo các doanh nghiệp triển khai các hoạt động du lịch; qua đó, liên tục đề xuất, trình Chính phủ phê duyệt từ các chính sách, chiến lược cho đến các chiến dịch, chương trình xúc tiến quảng bá từng thị trường khách cụ thể, trong từng giai đoạn nhất định.
   Trong nhiều năm liên tục, một trong những yếu tố quan trọng đã giúp ngành Du lịch Thái Lan mang lại lợi nhuận cao nhất cho quốc gia này là các chiến dịch quảng bá và xúc tiến đa dạng như: Năm 1982 là Rattanakosin Bicentennial; 1987 và năm 1992 đều có chủ đề là Năm Du lịch Thái Lan; hai năm liền 1998 - 1999 là Chiến dịch Amazing Thailand… Năm 1997, khi Thái Lan rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế thì chính du lịch là ngành kinh tế chủ đạo góp phần đưa nền kinh tế Thái Lan từ chỗ thâm hụt, giảm sút đến mức ổn định và dần tăng trưởng trở lại.
   Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan về du lịch là tăng cường, tập trung thu hút khách, tăng nguồn thu cho ngân sách, nhưng sự bùng nổ du lịch đó đã mang đến cho Thái Lan những tác động tiêu cực đối với các tài nguyên du lịch như vấn đề suy thoái, ô nhiễm môi trường, thay đổi sắc thái nền văn hóa. Nhận thức được ảnh hưởng tiêu cực đó, Chính phủ Thái Lan đã chuyển mục tiêu phát triển du lịch, tập trung vào việc nâng cao phần đóng góp tăng trưởng kinh tế của đất nước, bảo vệ môi trường trên cơ sở phát triển một cách ổn định và cân bằng, khuyến khích phát triển các nguồn lực, đảm bảo năng lực tham gia vào quá trình phát triển du lịch.
   Thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, TAT đã đưa ra các chính sách cụ thể nhằm xúc tiến, phát triển du lịch trong giai đoạn tiếp theo như sau:
   - Khôi phục và giữ gìn các tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường, văn hóa nghệ thuật thông qua việc ưu tiên phát triển du lịch bền vững.
   - Thúc đẩy hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân, phối hợp với cộng đồng địa phương trong quá trình khai thác, phát triển và quản lý tài nguyên du lịch.
   - Hỗ trợ phát triển các đối tượng cung cấp dịch vụ cho du khách thông qua việc áp dụng các tiến bộ về khoa học, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
   - Tăng cường hợp tác với các nước láng giềng, phối hợp xúc tiến, quảng bá phát triển các hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới giao thông và các tiện ích phục vụ du lịch.
   - Khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ du lịch cả về số lượng và chất lượng.
   - Thực hiện nghiêm túc các quy định trong việc đảm bảo an ninh cho du khách và môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp du lịch.
Ngoài ra, đối với các vấn đề liên quan đến du lịch, Thái Lan cũng có những chính sách cụ thể như: đối với Hàng không; giao thông đường bộ; du lịch đường biển; vấn đề thủ tục visa và cảnh quan, môi trường du lịch…
   Thái Lan xác định chiến lược phát triển sản phẩm du lịch với mục tiêu đưa du lịch Thái Lan có khả năng cạnh tranh quốc tế, đảm bảo cuộc sống cho người Thái và đảm bảo cân bằng kinh tế, xã hội. Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch 2012-2016 xác định phát triển mô hình chiến lược đã thực hiện tạo dựng các cơ hội mới vì sự phát triển bền vững trong tương lai. 4 chiến lược thành phần: xây dựng khả năng cạnh tranh cho du lịch của đất nước; tạo dựng cơ hội phát triển mạnh mẽ; phát triển gắn với tài nguyên thiên nhiên; tăng cường công tác quản lý của chính phủ.
7 chủ đề sản phẩm du lịch được xác định trong chiến lược và xác định chi tiết theo các hạng mục:
   Năm 2015, ngành du lịch Thái Lan lựa chọn những sản phẩm du lịch trong đó khách du lịch được trải nghiệm về “Thainess” (đặc trưng Thái). Các sản phẩm được lựa chọn phát triển trong kế hoạch này đưa ra những định hướng phát triển cụ thể về “Điểm đến PHẢI THĂM”, “Hoạt động PHẢI LÀM”, “Sản phẩm PHẢI MUA” và “Món ăn PHẢI NẾM”.
 Ẩm thực Thái Lan – du lịch ẩm thực
 Nghệ thuật Thái Lan – du lịch văn hóa nghệ thuật
 Cuộc sống của người Thái Lan – du lịch trải nghiệm cuộc sống bản địa
 Sức khỏe Thái Lan – du lịch chăm sóc sức khỏe
 Lễ hội truyền thống Thái Lan – du lịch lễ hội
 Sự thông thái của Thái Lan – du lịch tìm hiểu văn hóa truyền thống các dân tộc
 Niềm vui Thái Lan – du lịch vui chơi giải trí

   2. Singapore – Du lịch MICE khẳng định thế mạnh
   Singapore là một quốc đảo nhỏ, tài nguyên hạn chế, nhưng đã biết phát huy triệt để tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý và nguồn lực con người để có những bước phát triển vượt bậc. Diện tích quốc đảo chỉ có 710 km2 nhưng có đến 5,2 triệu người đang sinh sống, làm việc ở đây, trong đó có gần 2 triệu người nước ngoài. Trong các thành công của Singapore thời gian qua phải kể đến sự thành công của chính sách phát triển du lịch phù hợp cho từng giai đoạn của Chính phủ Singgapore.
   Từ năm 1965 đến nay, Singapore đã hoạch định chiến lược, xây dựng 6 kế hoạch phát triển du lịch khác nhau, đó là: “Kế hoạch Du lịch Singapore” (năm 1968), “Kế hoạch Phát triển du lịch” (năm 1986), “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), “Du lịch 21” (năm 1996), “Du lịch 2015” (năm 2005), “Địa giới du lịch 2020” (năm 2012).

Asean mai 3
Nguồn: Singapore Tourism Board

   Với “Kế hoạch phát triển du lịch” (năm 1986), Singapore chủ trương bảo tồn và khôi phục các khu lịch sử văn hóa như: Khu phố của người Hoa, Tanjong Tagar, Little India, Kampong Glam, sông Singapore. Với “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), Singgapore tập trung phát triển các sản phẩm du lịch mới như: du thuyền, du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục, du lịch trăng mật; phát triển các thị trường du lịch mới; tổ chức các lễ hội lớn mang tầm cỡ quốc tế; tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch; trao các giải thưởng về du lịch; giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về du lịch…
   Năm 1996, Singapore triển khai “Du lịch 21”, chuẩn bị và thực hiện tầm nhìn dài hạn cho sự phát triển của du lịch trong Thế kỷ 21, với các chiến lược thị trường du lịch mới nổi, chiến lược du lịch khu vực, chiến lược phát triển sản phẩm du lịch mới, chiến lược nguồn vốn du lịch, chiến lược “Nhà vô địch du lịch Singapore”.
   Trong “Du lịch 2015”, Singapore tập trung phát triển các thị trường chính với phương châm tạo sự hiểu biết tốt hơn về Singapore, phát triển Singapore thành một điểm du lịch “phải đến”, cải thiện tiêu chuẩn dịch vụ nhằm cung cấp các dịch vụ đáng nhớ cho khách du lịch, nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển các doanh nghiệp du lịch và nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp, phát triển các sản phẩm trọng tâm của du lịch… Năm 2012, Singgapore chi 300 triệu đô Sing để tổ chức các sự kiện du lịch, chi 340 triệu đô Sing phát triển các sản phẩm du lịch, chi 265 triệu đô Sing phát triển nguồn nhân lực du lịch. Đến năm 2015, Singapore đầu tư cho Quỹ phát triển du lịch là 2 tỷ đô Sing, dự kiến đón khoảng 17 triệu khách du lịch quốc tế và doanh thu từ du lịch khoảng 30 tỷ đô Sing.
   Singapore xây dựng chiến lược phát triển du lịch MICE, xác định đưa quốc gia này trở thành cường quốc dẫn đầu trong khu vực Châu Á về du lịch hội nghị hội thảo. Đồng thời, Singapore sẽ phát triển trở thành trung tâm dịch vụ và nghỉ dưỡng của khu vực. Chiến lược này xác định ra các dự án du lịch lớn cần phải thực hiện như Giải đua công thức 1 (Formula OneTM Singapore Grand Prix), Khu phức hợp nghỉ dưỡng (Integrated Resorts) và Vòng đu quay khổng lồ (Singapore Flyer)…
   Xác định phát triển du lịch MICE là trọng tâm: với lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, là trung tâm của các hoạt động giao thương lớn trong khu vực, Singapore xác định phát triển du lịch MICE là trọng tâm của chiến lược phát triển sản phẩm du lịch.
   Từ năm 1971, quốc gia này đã xúc tiến hình ảnh “Trung tâm hội nghị của phía Đông”, cùng với việc thành lập Cục phát triển Hội nghị Singapore năm 1974 (Singapore Convention Bureau - SCB) với nhiệm vụ xây dựng nhận thức cho cả thế giới về châu Á – một điểm đến tổ chức hội nghị hội thảo và nghĩ đến Singapore – điểm đến MICE tốt nhất ở Châu Á.
   Xác định được mục tiêu, Singapore bắt tay với các khách sạn lớn hàng đầu thế giới phát triển các trung tâm hội nghị, các nhà đầu tư tư nhân để phát triển các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại. Đến cuối những năm 1990, Singapore đã có đủ các cơ sở hạ tầng, VCKT cần thiết để tổ chức các sự kiện MICE tầm cỡ thế giới như Suntec Singapore International Convention, Exhibition Centre và the Singapore Expo.
   Đến năm 1996, SCB đổi tên thành Cục phát triển Hội nghị và Triển lãm Singapore (SECB) để mở rộng sang lĩnh vực tổ chức triển lãm. Cùng với đó là sự hợp tác với các bên đối tác là doanh nghiệp trong lĩnh vực tổ chức sự kiện, lữ hành để nâng cao chất lượng trải nghiệm du lịch MICE cho khách hàng là người đi du lịch công vụ.
   Hiện nay, Singapore đã trở thành điểm đến dẫn đầu thế giới về du lịch MICE, lĩnh vực này đóng góp hơn 30% vào tổng thu từ du lịch của quốc gia. Dù vậy, quốc gia này vẫn nỗ lực để thay đổi, phát triển không ngừng, để duy trì vị trí dẫn đầu.

   3. Malaysia – du lịch nghỉ dưỡng

Asean mai 4
Nguồn: Malaysia Tourism

   Malaysia là đất nước có ngành Du lịch phát triển nhất trong khu vực. Mục tiêu phát triển du lịch của Malaysia đến năm 2020 trở thành nước phát triển về du lịch hàng đầu trong khu vực và quốc tế. Thông điệp chính của ngành du lịch thể hiện mục tiêu và quan điểm phát triển: “Định vị Malaysia là điểm đến du lịch hàng đầu trong nhận thức thị trường và xây dựng ngành du lịch thành ngành có đóng góp chính trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”. 10 thị trường khách du lịch hàng đầu của Malaysia theo thứ tự quan trọng bao gồm Singapore, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc, Brunay, Ấn Độ, Australia, Philipines, Anh và Nhật Bản.
   Trong chiến lược chung của Malaysia về chuyển dịch kinh tế, ngành Du lịch xây dựng kế hoạch chuyển dịch phát triển du lịch đến năm 2020 tập trung vào việc phát triển sản phẩm và thị trường với mục tiêu chính là tập trung vào thị trường có khả năng chi trả cao, đẩy mạnh chương trình tiêu dùng của khách du lịch.
   Hai hướng chính trong quan điểm phát triển là: bảo vệ, bảo tồn và giữ gìn môi trường: phát triển du lịch xanh, giải thưởng khách sạn xanh, chiến dịch quốc gia về một Malaysia xanh, một Malaysia sạch và phát triển toàn diện, chú trọng tính cân bằng và tính bền vững (tầm quan trọng của lợi ích cộng đồng).
   Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay. Malaysia xác định phải có những sáng kiến và cải tiến trong phát triển sản phẩm. Các sáng kiến tập trung vào tổ chức các sự kiện tầm quan trọng quốc gia gồm: “Malaysia ngôi nhà thứ 2 của tôi” để khuyến khích người nước ngoài mua nhà tại Malaysia để đi lại nghỉ ngơi, du lịch và kéo theo người thân và bạn bè tới du lịch tại đây. Ngoài ra, Malaysia cũng tập trung vào duy trì và khuếch trương sản phẩm du lịch mua sắm. Tập trung các sản phẩm cho thị trường du lịch cao cấp và xác định địa điểm cụ thể và từng hoạt động: nghỉ dưỡng tại các khu du lịch, vui chơi giải trí, các loại hình thể thao, các địa điểm mua sắm. Đặc biệt tập trung vào đẩy mạnh du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục và cuối cùng là du lịch MICE.
   Malaysia đã khai thác ba nét nổi bật nhằm tạo nên sự độc đáo và hấp dẫn để phát triển du lịch, thu hút du khách. Đầu tiên, Malaysia là một quốc gia đa dân tộc, sự pha trộn nhiều nền văn hóa khác nhau tạo nên một bản sắc văn hóa rất riêng. Với hơn 60% dân số theo đạo Hồi, những nét văn hóa đạo Hồi của Malaysia mang đến trải nghiệm thú vị cho du khách. Bên cạnh đó, Malaysia còn có văn hóa ẩm thực đặc sắc, bởi đây là nơi giao thoa của nhiều nền ẩm thực hàng đầu. Malaysia cũng là đất nước có nhiều điểm đến hấp dẫn, du khách có thể thể thỏa sức khám phá vẻ đẹp đích thực của châu Á từ các thành phố sang trọng, rừng cây nhiệt đới cho đến những vùng núi cao, cao nguyên hoang sơ, bãi biển đẹp. Đặc biệt, nét nổi bật của du lịch Malaysia là các sản phẩm du lịch đa dạng, đẳng cấp quốc tế với mức giá cạnh tranh. Nổi bật là du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, thể thao mạo hiểm, các địa điểm mua sắm… Malaysia hiện đang đẩy mạnh phát triển các sản phẩm mới như du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục và du lịch công vụ (M.I.C.E). Để thu hút đông đảo du khách hơn nữa, Malaysia luôn chú trọng sáng tạo các sản phẩm du lịch mới, thoản mãn mọi nhu cầu của du khách khắp nơi trên thế giới…
   Về quy hoạch du lịch, Malaysia không có một quy hoạch tổng thể phát triển du lịch như cách tiếp cận của Việt Nam mà chỉ có “Kế hoạch chuyển đổi du lịch Malaysia đến năm 2020” nhằm thu hút các thị trường trường du lịch có khả năng chi trả cao và tăng chi tiêu du lịch. Các khu vực, địa bàn phát triển du lịch chính với các chức năng cụ thể đã được xác định trong Chiến lược Phát triển du lịch từ những năm 1970 vẫn được duy trì. Căn cứ vào định hướng có tính quốc gia này, các địa phương, thậm chí doanh nghiệp du lịch sẽ có những kế hoạch phát triển du lịch cụ thể.

   4. Indonesia – du lịch sinh thái và cộng đồng
   Indonesia đã xây dựng xong chiến lược tổng thể phát triển du lịch đến năm 2025, theo đó tư tưởng chính sẽ tập trung nâng cao chất lượng du lịch. Mục đích của chiến lược phát triển du lịch đến năm 2025 của Indonesia sẽ phát triển khoảng 50 điểm đến quy mô quốc gia với một số “hành lang du lịch”, lượng khách quốc tế dự kiến đến thời điểm này dự kiến đạt 25 triệu lượt người. Cùng với chiến lược là một kế hoạch phát triển đến năm 2015 cũng đã hoàn tất với nội dung tập trung phát triển 3 loại hình du lịch chính là du lịch sinh thái, du lịch nông thôn và du lịch biển. Đối với du lịch nông thôn sẽ triển khai trên 54 điểm, du lịch sinh thái là 50 điểm ở các vườn quốc gia.

Asean mai 1
Nguồn: Indonesia Tourism

   Indonesia có chủ trương phát triển du lịch dựa vào cộng đồng. Chính phủ hỗ trợ phát triển bằng việc cho thuê đất với giá rẻ để cộng động làm du lịch, đồng thời hướng dẫn và đào tạo cộng đồng về nghiệp vụ du lịch. Các sản phẩm chính được định hướng: du lịch di sản, du lịch sinh thái, du lịch đánh golf, du lịch lặn biển, du lịch MICE. Ở Indonesia, Vụ Thị trường của Cục Xúc tiến Indonesia có nhiệm vụ theo dõi diễn biến thị trường, định hướng và tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bà du lịch ở cấp quốc gia. Từ việc theo dõi thị trường và đánh giá tình hình, xu hướng phát triển kinh tế - xã hội và du lịch, Indonesia chuyển hướng thu hút thị trường khách du lịch ASEAN. Ngân sách xúc tiến quảng bá du lịch năm 2010 của Indonesia vào khoảng 40 triệu USD.
   Đối với việc phát triển sản phẩm du lịch, đặc biệt tại địa bàn đảo Bali – một trong những điểm du lịch nổi bật của Indonesia thì những thành công chính nằm ở vấn đề như tôn trọng ý kiến, tập tục và tư duy của người bản địa; nâng cao nhận thức về phát triển du lịch theo một quá trình; ban hành các quy định chặt chẽ và rõ ràng về kiến thức, có quan điểm bảo tồn và giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống.

 

ThS. Nguyễn Hoàng Mai – Phòng QLKH&HTQT

   XuhuongKinh nghiệm của Thái Lan

   Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển du lịch đối với nền kinh tế quốc dân nên Thái Lan là một trong những nước tiên phong trong du lịch bắt tay vào làm du lịch và trở thành “cường quốc du lịch” trong khu vực.

   Xu hướng du lịch sinh thái

  Những năm gần đây, xu hướng đi du lịch sinh thái ngày càng phát triển vì con người ngày càng muốn gần gũi với thiên nhiên. Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) và các doanh nghiệp tư nhân đã nhanh chóng nắm bắt được xu hướng này của khách du lịch và nhanh chóng phát triển rất nhanh loại hình du lịch này. Nhận thức được thực tế là Thái Lan được tạo hóa ban tặng nhiều kỳ quan thiên nhiên tuyệt đẹp với những cảnh quan hoang dã phù hợp với loại hình du lịch sinh thái, chính phủ Thái Lan đã đầu tư nhiều tiền vào phát triển du lịch sinh thái và kết quả là Thái Lan đã trở thành điểm đến quen thuộc đối với những du khách yêu thích khám phá, tìm hiểu tự nhiên. Trong suốt hai thập kỷ qua, những hoạt động như xe đạp leo núi, thả bè trên sông, cắm trại, ngắm chim choc, tự nhiên, lặn biển, leo núi đá…rất phát triển trong những khu du lịch tự nhiên của Thái Lan, đặc biệt là khu vực phía Bắc, Đông và Nam Thái Lan. Với hành trình Bangkok - Pattaya - Kanchanaburi sẽ đưa du khách đến không gian xanh của những cánh rừng nguyên sinh bát ngát, những ngọn núi đồi hùng vĩ. Ở Kanchanaburi, nơi địa hình thung lũng rộng lớn bao quanh bởi núi đồi và những cánh rừng nguyên sinh cùng ba con sông nổi tiếng Khwae Noi, Khwae Yai và Mae Klong hợp lưu với nhau, các doanh nghiệp du lịch Thái đã đầu tư vào các hoạt động vui chơi giải trí gắn liền với sông nước thú vị như: vượt thác, tắm thác giữa đại ngàn núi rừng bao la với phương pháp massage bằng nước cực kỳ hiệu nghiệm. Bên cạnh đó, Kanchanaburi còn thu hút du khách với trải nghiệm hoàn toàn độc đáo, mới lạ trên lưng những chú voi khổng lồ để du ngoạn cảnh sắc hai bên cánh rừng mênh mông.

   5.vanhoadantoc 1 Trong những năm qua, Du lịch đã dần khẳng định vị trí trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Để làm được điều này, việc kết hợp giữa văn hóa và du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra tính hấp dẫn riêng có của du lịch. Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch đã nhận được nhiều sự quan tâm đánh giá của các chuyên gia và nhìn chung đều thống nhất ở điểm chú trọng yếu tố văn hóa truyền thống dân tộc là cần thiết, vừa bảo tồn và khai thác hiệu quả các giá trị nhằm hướng tới việc phát triển du lịch bền vững.
   Trong quá trình dựng nước và giữa nước lâu dài, nhân dân Việt Nam đã tự tạo ra một nền văn hóa riêng biệt và dần nâng lên trình độ văn minh. Nền văn hóa và văn minh đó đã khẳng định sự tồn tại độc lập của người Việt Nam trên lãnh thổ quốc gia của mình, sát cánh cùng các dân tộc ít người. Nền văn hóa đó rất đa dạng và nhiều màu sắc, phản ánh cuộc sống lao động sáng tạo và tự chủ của cư dân sống trên đất nước Việt Nam.

“Du lịch trở thành một trong ba ngành công nghiệp tạo ra việc làm lớn nhất trên thế giới. Du lịch thúc đẩy sự đầu tư lớn về cơ sở hạ tầng và phần lớn trong số đó hỗ trợ một cách tích cực cho việc cải thiện điều kiện sống của người dân địa phương. Du lịch cũng mang lại nguồn thu đáng kể từ thuế thu nhập. Những nghề nghiệp mới nhất trong du lịch cũng được tạo ra ở các nước đang phát triển giúp cho họ cân bằng cơ hội kinh tế và tránh khỏi việc di cư tự do từ các vùng quê lên các thành phố lớn” (UNWTO, 2007).
Tổng quan về du lịch cộng đồng 

minh hoaCác quan điểm tích cực về vai trò của du lịch đã hỗ trợ và khuyến khích các chính phủ và các tổ chức phát triển ở nhiều quốc gia sử dụng du lịch như một cứu cánh cho việc cân bằng quá trình phát triển đất nước. Để đảm bảo việc phát triển du lịch đúng với tầm vóc của mình, ngoài những nguồn lực cơ bản đầu tư do chính cộng đồng, chính phủ và các tổ chức phát triển tạo ra, bên cạnh đó người dân địa phương cũng cần có cam kết tham gia, đầu tư về thời gian, tiền bạc, nỗ lực và hy vọng vào du lịch. Vấn đề của mối quan hệ này là xây dựng được lòng tin, khả năng đem lại nguồn lợi lớn về xã hội, kinh tế cho cộng đồng của họ từ việc tham gia làm du lịch. Để giải quyết được các vấn đề về tác động tiêu cực của du lịch, một số loại hình du lịch mới đã được giới thiệu. Đặc biệt là du lịch cộng đồng.

Trang 1 / 2