SCREEN

Cpanel

29Tháng ba2017

   1. Thái Lan – Văn hóa Thái là lợi thế cạnh tranh trong phát triển sản phẩm du lịch


Asean mai 2 
Chùa Wat Phra That Doi Suthep - Chiang Mai Thái Lan

   Thái Lan là nước có ngành du lịch phát triển mạnh ở châu Á. Truyền thống văn hóa và sự mến khách của nhân dân Thái Lan là yếu tố quan trọng góp phần tăng cường thu hút khách du lịch đến với đất nước này. Ngành du lịch là ngành thu được nguồn ngoại tệ chủ yếu và cao hơn các ngành sản xuất khác của Thái Lan. Thị trường khách quốc tế chủ yếu của Thái Lan là các nước trong khối ASEAN, châu Á, châu Âu như Pháp, Đức, Bỉ…
   Cơ quan Du lịch Quốc gia Thái Lan, gọi tắt là TAT là cơ quan quản lý nhà nước cao nhất, có trách nhiệm xúc tiến và phát triển du lịch Thái Lan. TAT là cơ quan trực thuộc Chính phủ, hoạt động độc lập. Đứng đầu Cơ quan Du lịch Quốc gia là Thống đốc. Giúp việc cho Thống đốc có Văn phòng Thống đốc, Hội đồng Tư vấn, Viện Đào tạo Khách sạn và Du lịch, Văn phòng Kinh doanh Du lịch Bangkok, Ban Quản lý hoạt động khu du lịch và Thanh tra Tài chính nội bộ… Sự hoạt động của TAT rất đạt hiệu quả, bởi có chiến lược và biết tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu thị trường và xúc tiến quảng bá, sau đó đưa ra định hướng và những giải pháp cụ thể cho các doanh nghiệp thực hiện. TAT luôn phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành có liên quan đến du lịch để chỉ đạo các doanh nghiệp triển khai các hoạt động du lịch; qua đó, liên tục đề xuất, trình Chính phủ phê duyệt từ các chính sách, chiến lược cho đến các chiến dịch, chương trình xúc tiến quảng bá từng thị trường khách cụ thể, trong từng giai đoạn nhất định.
   Trong nhiều năm liên tục, một trong những yếu tố quan trọng đã giúp ngành Du lịch Thái Lan mang lại lợi nhuận cao nhất cho quốc gia này là các chiến dịch quảng bá và xúc tiến đa dạng như: Năm 1982 là Rattanakosin Bicentennial; 1987 và năm 1992 đều có chủ đề là Năm Du lịch Thái Lan; hai năm liền 1998 - 1999 là Chiến dịch Amazing Thailand… Năm 1997, khi Thái Lan rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế thì chính du lịch là ngành kinh tế chủ đạo góp phần đưa nền kinh tế Thái Lan từ chỗ thâm hụt, giảm sút đến mức ổn định và dần tăng trưởng trở lại.
   Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan về du lịch là tăng cường, tập trung thu hút khách, tăng nguồn thu cho ngân sách, nhưng sự bùng nổ du lịch đó đã mang đến cho Thái Lan những tác động tiêu cực đối với các tài nguyên du lịch như vấn đề suy thoái, ô nhiễm môi trường, thay đổi sắc thái nền văn hóa. Nhận thức được ảnh hưởng tiêu cực đó, Chính phủ Thái Lan đã chuyển mục tiêu phát triển du lịch, tập trung vào việc nâng cao phần đóng góp tăng trưởng kinh tế của đất nước, bảo vệ môi trường trên cơ sở phát triển một cách ổn định và cân bằng, khuyến khích phát triển các nguồn lực, đảm bảo năng lực tham gia vào quá trình phát triển du lịch.
   Thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, TAT đã đưa ra các chính sách cụ thể nhằm xúc tiến, phát triển du lịch trong giai đoạn tiếp theo như sau:
   - Khôi phục và giữ gìn các tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường, văn hóa nghệ thuật thông qua việc ưu tiên phát triển du lịch bền vững.
   - Thúc đẩy hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân, phối hợp với cộng đồng địa phương trong quá trình khai thác, phát triển và quản lý tài nguyên du lịch.
   - Hỗ trợ phát triển các đối tượng cung cấp dịch vụ cho du khách thông qua việc áp dụng các tiến bộ về khoa học, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
   - Tăng cường hợp tác với các nước láng giềng, phối hợp xúc tiến, quảng bá phát triển các hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới giao thông và các tiện ích phục vụ du lịch.
   - Khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ du lịch cả về số lượng và chất lượng.
   - Thực hiện nghiêm túc các quy định trong việc đảm bảo an ninh cho du khách và môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp du lịch.
Ngoài ra, đối với các vấn đề liên quan đến du lịch, Thái Lan cũng có những chính sách cụ thể như: đối với Hàng không; giao thông đường bộ; du lịch đường biển; vấn đề thủ tục visa và cảnh quan, môi trường du lịch…
   Thái Lan xác định chiến lược phát triển sản phẩm du lịch với mục tiêu đưa du lịch Thái Lan có khả năng cạnh tranh quốc tế, đảm bảo cuộc sống cho người Thái và đảm bảo cân bằng kinh tế, xã hội. Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch 2012-2016 xác định phát triển mô hình chiến lược đã thực hiện tạo dựng các cơ hội mới vì sự phát triển bền vững trong tương lai. 4 chiến lược thành phần: xây dựng khả năng cạnh tranh cho du lịch của đất nước; tạo dựng cơ hội phát triển mạnh mẽ; phát triển gắn với tài nguyên thiên nhiên; tăng cường công tác quản lý của chính phủ.
7 chủ đề sản phẩm du lịch được xác định trong chiến lược và xác định chi tiết theo các hạng mục:
   Năm 2015, ngành du lịch Thái Lan lựa chọn những sản phẩm du lịch trong đó khách du lịch được trải nghiệm về “Thainess” (đặc trưng Thái). Các sản phẩm được lựa chọn phát triển trong kế hoạch này đưa ra những định hướng phát triển cụ thể về “Điểm đến PHẢI THĂM”, “Hoạt động PHẢI LÀM”, “Sản phẩm PHẢI MUA” và “Món ăn PHẢI NẾM”.
 Ẩm thực Thái Lan – du lịch ẩm thực
 Nghệ thuật Thái Lan – du lịch văn hóa nghệ thuật
 Cuộc sống của người Thái Lan – du lịch trải nghiệm cuộc sống bản địa
 Sức khỏe Thái Lan – du lịch chăm sóc sức khỏe
 Lễ hội truyền thống Thái Lan – du lịch lễ hội
 Sự thông thái của Thái Lan – du lịch tìm hiểu văn hóa truyền thống các dân tộc
 Niềm vui Thái Lan – du lịch vui chơi giải trí

   2. Singapore – Du lịch MICE khẳng định thế mạnh
   Singapore là một quốc đảo nhỏ, tài nguyên hạn chế, nhưng đã biết phát huy triệt để tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý và nguồn lực con người để có những bước phát triển vượt bậc. Diện tích quốc đảo chỉ có 710 km2 nhưng có đến 5,2 triệu người đang sinh sống, làm việc ở đây, trong đó có gần 2 triệu người nước ngoài. Trong các thành công của Singapore thời gian qua phải kể đến sự thành công của chính sách phát triển du lịch phù hợp cho từng giai đoạn của Chính phủ Singgapore.
   Từ năm 1965 đến nay, Singapore đã hoạch định chiến lược, xây dựng 6 kế hoạch phát triển du lịch khác nhau, đó là: “Kế hoạch Du lịch Singapore” (năm 1968), “Kế hoạch Phát triển du lịch” (năm 1986), “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), “Du lịch 21” (năm 1996), “Du lịch 2015” (năm 2005), “Địa giới du lịch 2020” (năm 2012).

Asean mai 3
Nguồn: Singapore Tourism Board

   Với “Kế hoạch phát triển du lịch” (năm 1986), Singapore chủ trương bảo tồn và khôi phục các khu lịch sử văn hóa như: Khu phố của người Hoa, Tanjong Tagar, Little India, Kampong Glam, sông Singapore. Với “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), Singgapore tập trung phát triển các sản phẩm du lịch mới như: du thuyền, du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục, du lịch trăng mật; phát triển các thị trường du lịch mới; tổ chức các lễ hội lớn mang tầm cỡ quốc tế; tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch; trao các giải thưởng về du lịch; giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về du lịch…
   Năm 1996, Singapore triển khai “Du lịch 21”, chuẩn bị và thực hiện tầm nhìn dài hạn cho sự phát triển của du lịch trong Thế kỷ 21, với các chiến lược thị trường du lịch mới nổi, chiến lược du lịch khu vực, chiến lược phát triển sản phẩm du lịch mới, chiến lược nguồn vốn du lịch, chiến lược “Nhà vô địch du lịch Singapore”.
   Trong “Du lịch 2015”, Singapore tập trung phát triển các thị trường chính với phương châm tạo sự hiểu biết tốt hơn về Singapore, phát triển Singapore thành một điểm du lịch “phải đến”, cải thiện tiêu chuẩn dịch vụ nhằm cung cấp các dịch vụ đáng nhớ cho khách du lịch, nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển các doanh nghiệp du lịch và nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp, phát triển các sản phẩm trọng tâm của du lịch… Năm 2012, Singgapore chi 300 triệu đô Sing để tổ chức các sự kiện du lịch, chi 340 triệu đô Sing phát triển các sản phẩm du lịch, chi 265 triệu đô Sing phát triển nguồn nhân lực du lịch. Đến năm 2015, Singapore đầu tư cho Quỹ phát triển du lịch là 2 tỷ đô Sing, dự kiến đón khoảng 17 triệu khách du lịch quốc tế và doanh thu từ du lịch khoảng 30 tỷ đô Sing.
   Singapore xây dựng chiến lược phát triển du lịch MICE, xác định đưa quốc gia này trở thành cường quốc dẫn đầu trong khu vực Châu Á về du lịch hội nghị hội thảo. Đồng thời, Singapore sẽ phát triển trở thành trung tâm dịch vụ và nghỉ dưỡng của khu vực. Chiến lược này xác định ra các dự án du lịch lớn cần phải thực hiện như Giải đua công thức 1 (Formula OneTM Singapore Grand Prix), Khu phức hợp nghỉ dưỡng (Integrated Resorts) và Vòng đu quay khổng lồ (Singapore Flyer)…
   Xác định phát triển du lịch MICE là trọng tâm: với lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, là trung tâm của các hoạt động giao thương lớn trong khu vực, Singapore xác định phát triển du lịch MICE là trọng tâm của chiến lược phát triển sản phẩm du lịch.
   Từ năm 1971, quốc gia này đã xúc tiến hình ảnh “Trung tâm hội nghị của phía Đông”, cùng với việc thành lập Cục phát triển Hội nghị Singapore năm 1974 (Singapore Convention Bureau - SCB) với nhiệm vụ xây dựng nhận thức cho cả thế giới về châu Á – một điểm đến tổ chức hội nghị hội thảo và nghĩ đến Singapore – điểm đến MICE tốt nhất ở Châu Á.
   Xác định được mục tiêu, Singapore bắt tay với các khách sạn lớn hàng đầu thế giới phát triển các trung tâm hội nghị, các nhà đầu tư tư nhân để phát triển các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại. Đến cuối những năm 1990, Singapore đã có đủ các cơ sở hạ tầng, VCKT cần thiết để tổ chức các sự kiện MICE tầm cỡ thế giới như Suntec Singapore International Convention, Exhibition Centre và the Singapore Expo.
   Đến năm 1996, SCB đổi tên thành Cục phát triển Hội nghị và Triển lãm Singapore (SECB) để mở rộng sang lĩnh vực tổ chức triển lãm. Cùng với đó là sự hợp tác với các bên đối tác là doanh nghiệp trong lĩnh vực tổ chức sự kiện, lữ hành để nâng cao chất lượng trải nghiệm du lịch MICE cho khách hàng là người đi du lịch công vụ.
   Hiện nay, Singapore đã trở thành điểm đến dẫn đầu thế giới về du lịch MICE, lĩnh vực này đóng góp hơn 30% vào tổng thu từ du lịch của quốc gia. Dù vậy, quốc gia này vẫn nỗ lực để thay đổi, phát triển không ngừng, để duy trì vị trí dẫn đầu.

   3. Malaysia – du lịch nghỉ dưỡng

Asean mai 4
Nguồn: Malaysia Tourism

   Malaysia là đất nước có ngành Du lịch phát triển nhất trong khu vực. Mục tiêu phát triển du lịch của Malaysia đến năm 2020 trở thành nước phát triển về du lịch hàng đầu trong khu vực và quốc tế. Thông điệp chính của ngành du lịch thể hiện mục tiêu và quan điểm phát triển: “Định vị Malaysia là điểm đến du lịch hàng đầu trong nhận thức thị trường và xây dựng ngành du lịch thành ngành có đóng góp chính trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”. 10 thị trường khách du lịch hàng đầu của Malaysia theo thứ tự quan trọng bao gồm Singapore, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc, Brunay, Ấn Độ, Australia, Philipines, Anh và Nhật Bản.
   Trong chiến lược chung của Malaysia về chuyển dịch kinh tế, ngành Du lịch xây dựng kế hoạch chuyển dịch phát triển du lịch đến năm 2020 tập trung vào việc phát triển sản phẩm và thị trường với mục tiêu chính là tập trung vào thị trường có khả năng chi trả cao, đẩy mạnh chương trình tiêu dùng của khách du lịch.
   Hai hướng chính trong quan điểm phát triển là: bảo vệ, bảo tồn và giữ gìn môi trường: phát triển du lịch xanh, giải thưởng khách sạn xanh, chiến dịch quốc gia về một Malaysia xanh, một Malaysia sạch và phát triển toàn diện, chú trọng tính cân bằng và tính bền vững (tầm quan trọng của lợi ích cộng đồng).
   Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay. Malaysia xác định phải có những sáng kiến và cải tiến trong phát triển sản phẩm. Các sáng kiến tập trung vào tổ chức các sự kiện tầm quan trọng quốc gia gồm: “Malaysia ngôi nhà thứ 2 của tôi” để khuyến khích người nước ngoài mua nhà tại Malaysia để đi lại nghỉ ngơi, du lịch và kéo theo người thân và bạn bè tới du lịch tại đây. Ngoài ra, Malaysia cũng tập trung vào duy trì và khuếch trương sản phẩm du lịch mua sắm. Tập trung các sản phẩm cho thị trường du lịch cao cấp và xác định địa điểm cụ thể và từng hoạt động: nghỉ dưỡng tại các khu du lịch, vui chơi giải trí, các loại hình thể thao, các địa điểm mua sắm. Đặc biệt tập trung vào đẩy mạnh du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục và cuối cùng là du lịch MICE.
   Malaysia đã khai thác ba nét nổi bật nhằm tạo nên sự độc đáo và hấp dẫn để phát triển du lịch, thu hút du khách. Đầu tiên, Malaysia là một quốc gia đa dân tộc, sự pha trộn nhiều nền văn hóa khác nhau tạo nên một bản sắc văn hóa rất riêng. Với hơn 60% dân số theo đạo Hồi, những nét văn hóa đạo Hồi của Malaysia mang đến trải nghiệm thú vị cho du khách. Bên cạnh đó, Malaysia còn có văn hóa ẩm thực đặc sắc, bởi đây là nơi giao thoa của nhiều nền ẩm thực hàng đầu. Malaysia cũng là đất nước có nhiều điểm đến hấp dẫn, du khách có thể thể thỏa sức khám phá vẻ đẹp đích thực của châu Á từ các thành phố sang trọng, rừng cây nhiệt đới cho đến những vùng núi cao, cao nguyên hoang sơ, bãi biển đẹp. Đặc biệt, nét nổi bật của du lịch Malaysia là các sản phẩm du lịch đa dạng, đẳng cấp quốc tế với mức giá cạnh tranh. Nổi bật là du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, thể thao mạo hiểm, các địa điểm mua sắm… Malaysia hiện đang đẩy mạnh phát triển các sản phẩm mới như du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục và du lịch công vụ (M.I.C.E). Để thu hút đông đảo du khách hơn nữa, Malaysia luôn chú trọng sáng tạo các sản phẩm du lịch mới, thoản mãn mọi nhu cầu của du khách khắp nơi trên thế giới…
   Về quy hoạch du lịch, Malaysia không có một quy hoạch tổng thể phát triển du lịch như cách tiếp cận của Việt Nam mà chỉ có “Kế hoạch chuyển đổi du lịch Malaysia đến năm 2020” nhằm thu hút các thị trường trường du lịch có khả năng chi trả cao và tăng chi tiêu du lịch. Các khu vực, địa bàn phát triển du lịch chính với các chức năng cụ thể đã được xác định trong Chiến lược Phát triển du lịch từ những năm 1970 vẫn được duy trì. Căn cứ vào định hướng có tính quốc gia này, các địa phương, thậm chí doanh nghiệp du lịch sẽ có những kế hoạch phát triển du lịch cụ thể.

   4. Indonesia – du lịch sinh thái và cộng đồng
   Indonesia đã xây dựng xong chiến lược tổng thể phát triển du lịch đến năm 2025, theo đó tư tưởng chính sẽ tập trung nâng cao chất lượng du lịch. Mục đích của chiến lược phát triển du lịch đến năm 2025 của Indonesia sẽ phát triển khoảng 50 điểm đến quy mô quốc gia với một số “hành lang du lịch”, lượng khách quốc tế dự kiến đến thời điểm này dự kiến đạt 25 triệu lượt người. Cùng với chiến lược là một kế hoạch phát triển đến năm 2015 cũng đã hoàn tất với nội dung tập trung phát triển 3 loại hình du lịch chính là du lịch sinh thái, du lịch nông thôn và du lịch biển. Đối với du lịch nông thôn sẽ triển khai trên 54 điểm, du lịch sinh thái là 50 điểm ở các vườn quốc gia.

Asean mai 1
Nguồn: Indonesia Tourism

   Indonesia có chủ trương phát triển du lịch dựa vào cộng đồng. Chính phủ hỗ trợ phát triển bằng việc cho thuê đất với giá rẻ để cộng động làm du lịch, đồng thời hướng dẫn và đào tạo cộng đồng về nghiệp vụ du lịch. Các sản phẩm chính được định hướng: du lịch di sản, du lịch sinh thái, du lịch đánh golf, du lịch lặn biển, du lịch MICE. Ở Indonesia, Vụ Thị trường của Cục Xúc tiến Indonesia có nhiệm vụ theo dõi diễn biến thị trường, định hướng và tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bà du lịch ở cấp quốc gia. Từ việc theo dõi thị trường và đánh giá tình hình, xu hướng phát triển kinh tế - xã hội và du lịch, Indonesia chuyển hướng thu hút thị trường khách du lịch ASEAN. Ngân sách xúc tiến quảng bá du lịch năm 2010 của Indonesia vào khoảng 40 triệu USD.
   Đối với việc phát triển sản phẩm du lịch, đặc biệt tại địa bàn đảo Bali – một trong những điểm du lịch nổi bật của Indonesia thì những thành công chính nằm ở vấn đề như tôn trọng ý kiến, tập tục và tư duy của người bản địa; nâng cao nhận thức về phát triển du lịch theo một quá trình; ban hành các quy định chặt chẽ và rõ ràng về kiến thức, có quan điểm bảo tồn và giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống.

 

ThS. Nguyễn Hoàng Mai – Phòng QLKH&HTQT

   XuhuongKinh nghiệm của Thái Lan

   Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển du lịch đối với nền kinh tế quốc dân nên Thái Lan là một trong những nước tiên phong trong du lịch bắt tay vào làm du lịch và trở thành “cường quốc du lịch” trong khu vực.

   Xu hướng du lịch sinh thái

  Những năm gần đây, xu hướng đi du lịch sinh thái ngày càng phát triển vì con người ngày càng muốn gần gũi với thiên nhiên. Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) và các doanh nghiệp tư nhân đã nhanh chóng nắm bắt được xu hướng này của khách du lịch và nhanh chóng phát triển rất nhanh loại hình du lịch này. Nhận thức được thực tế là Thái Lan được tạo hóa ban tặng nhiều kỳ quan thiên nhiên tuyệt đẹp với những cảnh quan hoang dã phù hợp với loại hình du lịch sinh thái, chính phủ Thái Lan đã đầu tư nhiều tiền vào phát triển du lịch sinh thái và kết quả là Thái Lan đã trở thành điểm đến quen thuộc đối với những du khách yêu thích khám phá, tìm hiểu tự nhiên. Trong suốt hai thập kỷ qua, những hoạt động như xe đạp leo núi, thả bè trên sông, cắm trại, ngắm chim choc, tự nhiên, lặn biển, leo núi đá…rất phát triển trong những khu du lịch tự nhiên của Thái Lan, đặc biệt là khu vực phía Bắc, Đông và Nam Thái Lan. Với hành trình Bangkok - Pattaya - Kanchanaburi sẽ đưa du khách đến không gian xanh của những cánh rừng nguyên sinh bát ngát, những ngọn núi đồi hùng vĩ. Ở Kanchanaburi, nơi địa hình thung lũng rộng lớn bao quanh bởi núi đồi và những cánh rừng nguyên sinh cùng ba con sông nổi tiếng Khwae Noi, Khwae Yai và Mae Klong hợp lưu với nhau, các doanh nghiệp du lịch Thái đã đầu tư vào các hoạt động vui chơi giải trí gắn liền với sông nước thú vị như: vượt thác, tắm thác giữa đại ngàn núi rừng bao la với phương pháp massage bằng nước cực kỳ hiệu nghiệm. Bên cạnh đó, Kanchanaburi còn thu hút du khách với trải nghiệm hoàn toàn độc đáo, mới lạ trên lưng những chú voi khổng lồ để du ngoạn cảnh sắc hai bên cánh rừng mênh mông.

   5.vanhoadantoc 1 Trong những năm qua, Du lịch đã dần khẳng định vị trí trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Để làm được điều này, việc kết hợp giữa văn hóa và du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra tính hấp dẫn riêng có của du lịch. Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch đã nhận được nhiều sự quan tâm đánh giá của các chuyên gia và nhìn chung đều thống nhất ở điểm chú trọng yếu tố văn hóa truyền thống dân tộc là cần thiết, vừa bảo tồn và khai thác hiệu quả các giá trị nhằm hướng tới việc phát triển du lịch bền vững.
   Trong quá trình dựng nước và giữa nước lâu dài, nhân dân Việt Nam đã tự tạo ra một nền văn hóa riêng biệt và dần nâng lên trình độ văn minh. Nền văn hóa và văn minh đó đã khẳng định sự tồn tại độc lập của người Việt Nam trên lãnh thổ quốc gia của mình, sát cánh cùng các dân tộc ít người. Nền văn hóa đó rất đa dạng và nhiều màu sắc, phản ánh cuộc sống lao động sáng tạo và tự chủ của cư dân sống trên đất nước Việt Nam.

“Du lịch trở thành một trong ba ngành công nghiệp tạo ra việc làm lớn nhất trên thế giới. Du lịch thúc đẩy sự đầu tư lớn về cơ sở hạ tầng và phần lớn trong số đó hỗ trợ một cách tích cực cho việc cải thiện điều kiện sống của người dân địa phương. Du lịch cũng mang lại nguồn thu đáng kể từ thuế thu nhập. Những nghề nghiệp mới nhất trong du lịch cũng được tạo ra ở các nước đang phát triển giúp cho họ cân bằng cơ hội kinh tế và tránh khỏi việc di cư tự do từ các vùng quê lên các thành phố lớn” (UNWTO, 2007).
Tổng quan về du lịch cộng đồng 

minh hoaCác quan điểm tích cực về vai trò của du lịch đã hỗ trợ và khuyến khích các chính phủ và các tổ chức phát triển ở nhiều quốc gia sử dụng du lịch như một cứu cánh cho việc cân bằng quá trình phát triển đất nước. Để đảm bảo việc phát triển du lịch đúng với tầm vóc của mình, ngoài những nguồn lực cơ bản đầu tư do chính cộng đồng, chính phủ và các tổ chức phát triển tạo ra, bên cạnh đó người dân địa phương cũng cần có cam kết tham gia, đầu tư về thời gian, tiền bạc, nỗ lực và hy vọng vào du lịch. Vấn đề của mối quan hệ này là xây dựng được lòng tin, khả năng đem lại nguồn lợi lớn về xã hội, kinh tế cho cộng đồng của họ từ việc tham gia làm du lịch. Để giải quyết được các vấn đề về tác động tiêu cực của du lịch, một số loại hình du lịch mới đã được giới thiệu. Đặc biệt là du lịch cộng đồng.

neZEH WEB SITE SLIDE SHOW 620x211

   UNWTO và các đối tác đã giới thiệu bộ công cụ điện tử hướng dẫn các khách sạn đạt tới mức tiêu thụ năng lượng gần như bằng 0 (Nghĩa là các khách sạn tối đa hóa sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, hạn chế lượng năng sử dụng gần như bằng 0).
Bộ công cụ điện tử neZEH (nearly-Zero Enery Hotels – tạm dịch: Những khách sạn sử dụng năng lượng gần như bằng 0) đã chính thức được công bố tại website www.nezeh.eu. Bộ công cụ hỗ trợ đánh giá hiệu suất sử dụng năng lượng của khách sạn và đề xuất các biện pháp cải tiến hiệu quả và tối đa hóa sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, hướng tới hạn chế gần như bằng 0 việc tiêu thụ năng lượng.

   Đảo NamiĐảo Nami nằm ở thành phố Chuncheon, cách thủ đô Seoul, Hàn Quốc khoảng 70km. Đây là hòn đảo xinh đẹp, nổi tiếng gắn liền với sự thành công của bộ phim “Bản tình ca mùa đông”. Năm 2013, đảo Nami thu hút gần 3 triệu khách du lịch, trong đó xấp xỉ 1 triệu khách quốc tế. Đây là con số đáng kinh ngạc bởi trên thực tế, du lịch của hòn đảo nhỏ bé này đã từng có giai đoạn suy thoái, tưởng chừng không thể vực dậy được.

   Theo lý luận mang tính tiến bộ của Butler(1980), có thể nhìn nhận rằng đảo Nami là điểm du lịch có “sinh mệnh” đã trải qua chu kỳ vòng đời của mình theo mô hình chữ S gồm các giai đoạn là thăm dò, khai phá, phát triển, tăng trưởng, đình trệ và suy thoái, giai đoạn cải tạo. Việc khai thác đảo Nami được chính thức bắt đầu từ năm 1966 khi công ty phát triển du lịch KyoungChun được thành lập, lượng khách du lịch thăm quan đảo tăng đều cho đến năm 1989, tuy nhiên, đến năm 1990 bắt đầu đi vào suy thoái. Từ năm 2002, công ty tuyên bố cải tạo lại đảo và những nỗ lực trong quá trình tái tạo lại môi trường du lịch nơi đây đem lại kết quả là Đảo Nami đã quay trở lại vị trí vốn có của nó, địa điểm du lịch tiêu biểu của Hàn Quốc. Vậy hòn đảo này đã cải tạo, phát triển du lịch như thế nào?

Thứ hai, 17 Tháng mười một 2014 15:14

Kinh nghiệm quốc tế trong quản lý chất lượng du lịch

Tác giả :

logoVien chuan   Thực hiện sự chỉ đạo của Lãnh đạo Tổng cục, thuộc chương trình hành động quốc gia về Du lịch, Viện NCPTDL xây dựng bộ công cụ quản lý chất lượng 06 lĩnh vực du lịch: Lữ hành, khách sạn, cơ sở ăn uống, cơ sowkr mua sắm, khu điểm du lịch, điểm dừng chân du lịch. Sau quá trình nghuên cứu, tìm hiểu, Viện NCPTDL đúc rút được một số kinh nghiệm Quốc tế trong quản lý chất lượng của một số quốc gia trên thế giới như: Anh, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Hàn Quốc, Nhật Bản.

   Trong lĩnh vực du lịch, khách sạn, quản lý chất lượng toàn diện (TQM) là một quá trình mà huy động toàn bộ nhân viên làm việc theo nhóm để đáp ứng mong đợi về dịch vụ của khách hàng và quyết định cách tốt nhất để đáp ứng hoặc vượt quá những mong đợi đó.

   Đảm bảo chất lượng phụ thuộc vào hai yếu tốt quan trọng trọng kinh doanh: đặc trưng của hàng hóa, dịch vụ đó và sự kiểm soát chất lượng trong quá trình cung cấp dịch vụ mà thường được hỗ trợ bởi hoạt động kiểm tra, đánh giá (theo Evans and Lindsay, 2010).

   Bản Sín Chải cách thị trấn Sa Pa khoảng 4 km, nằm trên sườn núi thuộc dãy Hoàng Liên, phần lớn địa phận của Bản nằm trong hoặc sát kề với Vườn quốc gia Hoàng Liên với những dãy rừng nguyên thủy bạt ngàn với hệ sinh thái đa dạng và quý hiếm. Nơi đây chủ yếu là người dân tộc H' Mông có khoảng 120 hộ gia đình di cư từ Trung quốc sang từ thế kỷ thứ 17. Cuộc sống dựa vào sự du canh, du cư, canh tác nương rẫy và khai thác các sản phẩm từ rừng. Dân tộc H’Mông sống tại Bản Sin chải có một truyền thống văn hóa dân tộc, tập quán, tín ngưỡng tồn tại hàng ngàn đời nay, có một kho tàng về các điệu múa, các bài hát tiếng dân tộc, có hàng thủ công mỹ nghệ, vải, quần áo mang đặc trưng riêng của dân tộc H'Mông...

Hmong

   Do điều kiện địa lý, thủy văn và phong tục tập quán nên người dân ở đây chỉ canh tác một vụ lúa, nên thóc gạo không đủ trang trải quanh năm nhiều nhà đã phải chịu thiếu gạo khoảng 2-3 tháng/ năm, điều kiện sinh hoạt hết sức khó khăn. Người phụ nữ H’Mông cần cù chịu khó, chăm chỉ làm việc làm việc quanh năm, không khi nào được nghỉ tay, họ phải dậy sớm làm quần quật hết các nghề khác nhau như: chăn nuôi, thêu diệt hàng thổ cẩm trong đó hàng thổ cẩm được đánh giá rất cao về tính thẩm mỹ nhưng cuộc sống không thể thoát khỏi cái nghèo, cái đói. Cộng đồng người H'Mong luôn luôn du canh, du cư, họ luôn thay đổi địa điểm sinh sống và canh tác nên đã ảnh hưởng rất lớn đối với tài nguyên thiên nhiên.

  Cẩm nang DLNT Trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam-Nhật Bản, trong năm 2013 Tổng cục Du lịch đã giao Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch phối hợp cùng Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) biên tập và xuất bản cuốn “Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thôn Việt Nam” trên cơ sở đúc rút kết quả thực hiện các dự án hỗ trợ phát triển du lịch của Nhật Bản tại các vùng quê Việt Nam: Đường Lâm (Hà Nội), Phước Tích và Thanh Toàn (Thừa Thiên Huế), Hồng Phong (Hải Dương), Đông Hòa Hiệp (Tiền Giang), Tabhing (Quảng Nam) và 3 làng nghề Phù Lãng, Đình Tổ và Hòa Long (Bắc Ninh).

   Cẩm nang do TS. Hà Văn Siêu, Viện trưởng Viện nghiên cứu Phát triển Du lịch và ông Ando Katsuhiro, chuyên gia JICA đồng chủ biên với sự tham gia của các chuyên gia từ Tổng cục Du lịch, Hiệp hội Du lịch Việt Nam, các Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học KHXHNV, Đại học Quốc gia, Viện Nghiên cứu Phát triển ngành nghề Nông thôn Việt Nam, Tổ chức Cứu trợ và Phát triển Quốc tế Nhật bản (FIDR), Đại học Nữ Chiêu Hoàng Nhật Bản, Đại học Chiba, Đại học Tokai, Đại học Karashiki Sakuyo. 

   Cẩm nang là công cụ hỗ trợ hữu hiệu giúp các bên liên quan triển khai phát triển du lịch nông thôn một cách thiết thực, hiệu quả và bền vững. Vì vậy các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ sử dụng, tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo các bài học kinh nghiệm thực tiễn tại Cẩm nang, phát huy những giá trị tài nguyên du lịch các vùng quê để phát triển trở thành những điểm du lịch hấp dẫn; có kế hoạch phổ biến Cẩm nang đến các đối tượng liên quan: cơ quan quản lý (chính quyền địa phương, cán bộ quản lý cấp sở, phòng, trung tâm, ban quản lý...); tổ chức xã hội (hội nghề nghiệp, giáo hội, hội phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh...); doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.

   Trong thời gian tới, ngành Du lịch tiếp tục tăng cường các hoạt động hỗ trợ phát triển du lịch nông thôn gắn với Chương trình hành động quốc gia về du lịch và các chương trình, kế hoạch phát triển khác của Ngành. Trong đó, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và tư vấn kỹ thuật để triển khai cụ thể tại các địa phương. Hy vọng rằng với sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo gắn với đặc thù từng địa phương, bài học từ Cẩm nang này sẽ đem lại những kết quả thiết thực đối với phát triển du lịch tại các vùng nông thôn Việt Nam.    

   Ngày 13/5/2014, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Nguyễn Văn Tuấn đã ký ban hành công văn số 449/TCDL-VNCPTDL gửi các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc phổ biến áp dụng Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thôn Việt Nam. 

    Toàn văn công văn: CV449.pdf

 Toàn văn Cẩm nang quý độc giả có thể xem tại đây

   Sáng kiến ST-EP (Sustainable Tourism - Eliminating Poverty Initiative - Du lịch bền vững - xóa đói giảm nghèo)  là một Chương trình quan trọng của Tổ chức Du lịch thế giới UNWTO trong những năm qua nhằm hướng dẫn các nước thành viên về các giải pháp thực hiện xóa đói giảm nghèo thông qua hỗ trợ cộng đồng phát triển du lịch.

  Phát triển du lịch gắn với xóa đói giảm nghèo đang là mục tiêu của nhiều quốc gia nghèo và quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Hiện nay, Viện NCPT Du lịch với tư cách là đơn vị tham mưu cho Tổng cục Du lịch đã xây dựng Đề án “Phát triển du lịch cộng đồng kết hợp xóa đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đến năm 2020 để Bộ VHTTDL trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đây được coi là một nhiệm vụ quan trọng mà Bộ VHTTDL chủ trì để tiến tới cùng các Bộ, ngành liên quan thực hiện lồng ghép nhiệm vụ phát triển du lịch vào các mục tiêu xóa đói giảm nghèo.

    Sáng kiến ST-EP được bắt nguồn từ yêu cầu phát triển tất yếu. Tại Hội nghị Thượng đỉnh thiên niên kỷ từ năm 2000, Liên Hợp Quốc xác định nghèo đói là thách thức lớn của toàn cầu, coi đó như một trong những Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs), hướng tới xóa đói giảm nghèo cùng cực vào năm 2015. Với mục tiêu này, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã tìm cách giải quyết vấn đề bằng việc đưa ra Sáng kiến ST-EP (Sustainable Tourism - Eliminating Poverty Initiative), công bố tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển Bền vững tại Johannesburg năm 2002.

     Mặc dù du lịch có vị trí đặc biệt trong việc xóa đói giảm nghèo, tuy nhiên, người nghèo ở những nước kém phát triển không được hưởng các loại ích kinh tế từ ngành du lịch. Tổ chức Du lịch thế giới đã đưa ra chương trình Du lịch bền vững – Xóa đói giảm nghèo (Sáng kiến ST-EP) nhằm thúc đẩy xóa đói giảm nghèo thông qua hỗ trợ cho các dự án phát triển bền vững. Mọi sáng kiến tập trung vào việc duy trì và nâng cao các hoạt động mang tính lâu dài của các tổ chức hướng tới khuyến khích phát triển du lịch bền vững - xã hội, kinh tế và sinh thái - với các hoạt động đặc biệt tiến tới xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ,  tạo công ăn việc làm cho người dân sống dưới mức một đô-la một ngày. UNWTO xem Sáng kiến ST-EP như một công cụ hiệu quả để thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs). Du lịch có thể đóng một vai trò quan trọng đặc biệt đối với mục tiêu 1, 3, 7, 8 giải quyết xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới, xây dựng môi trường bền vững và hợp tác toàn cầu.

     Sau khi ra mắt Sáng kiến ST-EP, UNWTO đã thành lập Quỹ ST-EP tại Seoul - Hàn Quốc năm 2004 và bắt đầu thực hiện dự án vào cuối năm 2005 với một chương trình đào tạo hướng dẫn viên du lịch địa phương cho ngôi làng Ebogo ở Camerun. Kể từ đó, danh mục đầu tư của dự án nhanh cho chóng được mở rộng, hiện nay, nó bao gồm hơn 100 dự án nhỏ tại 30 quốc gia đang phát triển với nhiều hoạt động khác nhau từ phát triển sản phẩm du lịch sinh thái cộng đồng địa phương ở Guatemala, cho đến việc phát triển và quảng bá Đường mòn Himalaya vĩ đại tại Nepal với hướng tiếp cận nâng cao nhân tố kinh tế thông qua du lịch tại các quốc gia này. Một nửa số quốc gia được hưởng lợi từ những dự án là các nước kém phát triển. Các dự án có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan du lịch quốc gia, chính phủ địa phương, các tổ chức phai chính phủ, các tổ chức phát triển và doanh nghiệp du lịch tại các nước thụ hưởng.

     Dự án Sáng kiến ST-EP thường xuyên tổ chức các hội thảo nhằm nâng cao hiểu biết cũng như năng lực cho các cán bộ công chức, tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp tư nhân, cộng đồng địa phương. Năm 2004, UNWTO đã tổ chức trên 20 hội thảo đào tạo tại các vùng miền và các quốc gia về du lịch và xóa đói giảm nghèo với tổng đại biểu lên tới 2000 quan chức. Ngoài các hội thảo, UNWTO còn tổ chức nhiều diễn đàn ST-EP tại ITB Bec-lin, trình bày dự án này tại các hội thảo quốc tế, cung cấp bài giảng cho nhiều khóa học du lịch, tất cả nhằm phổ biến các kinh nghiệm cũng như bài học trước đó cho nhiều tổ chức và cá nhân quan tâm đến việc làm thế nào thực hiện được các mục tiêu thiên niên kỷ.

     Hiện nay, chương trình Sáng kiến ST-EP vẫn đang được Tổ chức Du lịch thế giới UNWTO tiếp tục triển khai tích cực.

7 CƠ CHẾ CỦA ST- EP

     Để mang đến những lợi ích thiết thực cho người nghèo, cần thiết phải có hệ thống thông tin rõ ràng nhằm tác động  đến việc khuyến khích chi tiêu của khách du lịch, đây cũng là việc đầu tư để cải thiện thu nhập và chất lượng sống cho người dân ở vùng nghèo đói, đồng thời đảm bảo mọi khả năng về vật chất và nhân lực tại địa phương đều được xem xét và sử dụng cho du lịch, đem lại lợi ích kinh tế vùng miền.
     Trong ấn phẩm: Du lịch và xóa đói giảm nghèo, đề nghị hành động, Sáng kiến ST- EP đã giới thiệu 7 cơ chế khác nhau, trong đó, người nghèo có thể được hưởng lợi ích từ ngành du lịch. Những cơ chế này trở thành kim chỉ nam quan trọng của Sáng kiến ST-EP, liên quan đến việc phổ biến và kết hợp hoạt động trong dự án ST-EP: nghiên cứu, hội thảo, đào tạo và các hội nghị liên quan. Có thể tóm tắt mỗi cơ chế như sau:

     1. Tạo việc làm cho người nghèo trong các doanh nghiệp du lịch
     Cơ chế này bao gồm các biện pháp thực hiện nhằm nâng cao mức sống cho người nghèo khi làm việc cho các doanh nghiệp du lịch. Thực tế, mối quan hệ giữa kinh doanh du lịch và việc làm cho người dân địa phương  là một hệ cộng sinh, trong đó cả hai mặt đều được hưởng lợi đáng kể. Những khu vực nghèo đói sẽ được hưởng lợi ích trực tiếp bởi nó cho phép người nghèo phát triển những kỹ năng của họ và được hưởng lợi từ điều đó, nâng cao các chất lượng dịch vụ du lịch. Nâng cao chất lượng của  giáo dục và đào tạo được cho là rất quan trọng, nhằm giúp người nghèo có thể đáp ứng được yêu cầu cơ hội đến với họ đồng thời, bất kì rào cản xã hội và văn hóa nào cũng bị loại bỏ.

     2. Người nghèo hay các tổ chức kinh tế của họ cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các doanh nghiệp du lịch
    Một trong những điều kiện cơ bản để có thể xóa đói giảm nghèo đó là hàng hóa và dịch vụ trong ngành du lịch phải là một chuỗi cung ứng, nhiều nhất có thể, đến từ các địa phương, vùng miền. Mục tiêu hướng tới là tối đa hóa tiêu dùng cho ngành du lịch và lợi ích đó được giữ lại ở cộng đồng địa phương mà trong đó, người nghèo tham gia vào quá trình này. Biện pháp nêu trên giúp hỗ trợ các kỹ năng và hoạt động truyền thống của vùng nông thôn, nâng cao chất lượng và định vị sản phẩm du lịch địa phương, giúp ổn định các nguồn thu nhập cho người dân.

     3. Người nghèo trực tiếp cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho du khách (hoạt động kinh doanh không chuyên)
   Xoadoigiamngheo Một trong những biện pháp chính để người nghèo có thể tìm kiếm lợi nhuận từ du lịch là thông qua việc bán các sản phẩm và dịch vụ, chẳng hạn như: hoa quả, đồ thủ công, hướng dẫn du lịch và họ sẽ  trực tiếp thực hiện việc cung cấp đó.

    Du khách tham quan tại các điểm đến sẽ có một số hoạt động trao đổi mua – bán nhỏ, lẻ, điều này có thể giúp nâng cao thu nhập cho người nghèo, đồng thời đem lại những trải nghiệm đầy màu sắc và bổ ích cho du khách. Cung cấp thông tin tới du khách là việc làm rất quan trọng, bên cạnh đó, trang bị cho người dân địa phương kiến thức về  yêu cầu, tiêu chuẩn sẽ giúp đảm bảo cho  sản phẩm của họ có thể đáp ứng yêu cầu của khách du lịch.

     4. Thành lập và đưa vào hoạt động các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ hoặc các tổ chức liên doanh bởi người nghèo (kinh doanh chuyên nghiệp)
     Cơ chế này bao gồm việc thành lập, quản lý tổ chức kinh doanh du lịch chuyên nghiệp hơn bởi người nghèo, không phải ở cấp độ riêng lẻ, hay cộng đồng.  Những tổ chức này có thể là các cơ sở lưu trú, ăn uống, vận chuyển, cửa hàng bán lẻ, hướng dẫn và giải trí. Lợi ích từ việc hình thành các doanh nghiệp ở cấp địa phương là tạo nên sức mạnh cũng như khả năng quản lý nằm trong tay người dân địa phương, tạo khả năng đảm bảo, duy trì các khoản đầu tư dài hạn cũng như cho phép doanh nghiệp thiết lập một quy mô hoạt động cần thiết để thu hút khách hàng.

     5. Phân phối lại số tiền thu được từ thuế hay các khoản phí từ khách du lịch hoặc các doanh nghiệp kinh doanh du lịch
     Cơ chế này liên quan đến doanh thu của quốc gia hay chính quyền địa phương từ du lịch có thể giúp giảm nghèo. Ưu điểm của cơ chế này là tất cả những người nghèo đều có thể thu lợi từ du lịch mà không cần tham gia trực tiếp vào ngành du lịch. Phạm vi mà trong đó nguồn ngân sách thu được từ du lịch hướng tới xóa đói giảm nghèo sẽ tùy thuộc vào chương trình và các ưu tiên quốc gia. Thuế và các khoản thu đều có thể đem lại nguồn thu cho địa phương, chẳng hạn như khoản thu từ khách nghỉ qua đêm đến tiền vé vào cửa các khu bảo tồn thường có thể sử dụng tất cả hay một phần làm lợi ích cộng đồng. Sự minh bạch trong việc áp dụng thuế địa phương là cần thiết, bên cạnh đó cũng cần tư vấn cho các khu vực riêng lẻ tránh áp đặt mức thuế quá cao sẽ hạn chế kinh doanh và khách du lịch đến tham quan.

     6. Du khách và các tổ chức kinh doanh du lịch tự nguyện ủng hộ, giúp đỡ người dân tại các địa phương.
     Việc tình nguyện hỗ trợ người nghèo bằng tiền hay lòng hảo tâm có thể có thể tác động lớn đến xóa đói, giảm nghèo. Nhiều nghiên cứu khác nhau đã chỉ ra rằng, trong số khách du lịch, nhiều người sẵn sàng làm một điều gì đó có ích đối với địa phương mà họ vừa tham quan. Một số doanh nghiệp du lịch cam kết tài trợ cho dự án phát triển của địa phương nơi họ hoạt động.  Các tổ chức địa phương hay tổ chức phi chính phủ có thể giúp đỡ trong việc tạo cơ chế thuận lợi thu hút đầu tư, tài trợ. Đề án đã chỉ ra rằng, địa phương và cộng đồng hoàn toàn có cơ hội lớn trong việc thu hút tài trợ, giúp đỡ từ du khách.

     7. Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng thông qua du lịch, đồng thời đem lại lợi ích cho người nghèo ở địa phương, trực tiếp hoặc thông qua sự hỗ trợ của các lĩnh vực khác
     Phát triển ngành du lịch, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng mới khai thác, có thể bao gồm cả công tác đầu tư cơ sở hạ tầng, chẳng hạn như xây dựng đường xá, hệ thống cung cấp nước và năng lượng, vệ sinh môi trường và phát triển văn hóa cộng đồng. Với việc lập kế hoạch một cách cẩn thận, cơ sở hạ tầng sẽ đem lại những lợi ích tích cực đến với người nghèo thông qua cung cấp cho họ những dịch vụ cơ bản, mở ra đường giao thông và tiếp cận nhanh hơn với thị trường. Thách thức chính ở đây là cần đảm bảo việc phát triển du lịch không làm tổn hại những giá trị của địa phương, ngược lại phải mang đến những cơ hội tiếp cận mới cho cộng đồng.

Phòng QLKH & HTQT

Tham khảo tại: http://step.unwto.org/en/content/seven-st-ep-mechanisms

Trang 1 / 2