Hướng dẫn Hỏi đáp Quy định

Đào tạo du lịch tại các trường đại học và cao đẳng – hội nhập và phát triển

   3.daotaodulich1 Tóm tắt:
   Cuối năm 2015, Việt Nam đã chính thức gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN, đây là một trong những thách thức không nhỏ đối với giáo dục và đào tạo trong du lịch. Phải đối mặt với việc luân chuyển lao động du lịch tự do trong khối đồng nghĩa với khả năng cạnh tranh mạnh mẽ về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực. Việc đổi mới giáo dục trong nhà trường và cập nhật các thông tin tiêu chuẩn của ngành đòi hỏi các trường phải có những bước tiếp cận hợp lý để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Bên cạnh sự hỗ trợ tích cực của các cơ quan quản lý ngành , việc chủ động, tích cực tìm ra giải pháp khắc phục những khó khăn, tồn tại trong công tác giảng dạy hiện nay và xây dựng năng lực nhằm khẳng định uy tín và thương hiệu của mình trong quá trình cạnh tranh và hội nhập là việc làm hết sức quan trọng.
   Việt Nam đã chính thức gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Mục tiêu của AEC là tạo dựng một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất cho các quốc gia thành viên, thúc đẩy dòng chu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, và lao động có tay nghề trong khối. Trong đó, du lịch là một trong 8 lĩnh vực ngành nghề được tự do di chuyển theo thỏa thuận trong khuôn khổ AEC. Theo đó, hiệp định chung công nhận về nghề lẫn nhau trong ASEAN về nghề du lịch (MRA) cũng được ký kết với 3 mục tiêu chính: Tạo điều kiện thuận lợi cho tính di động của ngành du lịch; Khuyến khích trao đổi thông tin để triển khai hiệu quả nhất việc giáo dục và đào tạo năng lực cơ sở cho các nghề du lịch; và Tạo cơ hội hợp tác và xây dựng năng lực cho các nước thành viên ASEAN. Đây là một cơ hội rất lớn đối với ngành du lịch Việt Nam đồng thời đó lại là một thách thức không nhỏ đối với các cơ sở đào tạo về du lịch của Việt Nam nói chung. Đặc biệt đối với khối các trường đại học và cao đẳng.
   Một số vấn đề cơ bản trong đào tạo du lịch ở bậc đại học và cao đẳng tại Việt Nam
   Theo con số thống kê của Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch nhân lực có trình độ đào tạo sơ cấp, trung cấp và cao đẳng du lịch là lực lượng lao động trực tiếp phục vụ khách, cung cấp sản phẩm du lịch, chiếm 47,3% nhân lực được đào tạo, bằng 19,8% tổng nhân lực toàn Ngành. Nhân lực được đào tạo đại học và sau đại học về du lịch chiếm 7,4% số nhân lực có chuyên môn du lịch, bằng 3,2% tổng nhân lực. Số nhân lực có trình độ đại học và trên đại học về du lịch như trên là thấp so với nhu cầu  phát triển và hội nhập quốc tế. Nhân lực trình độ dưới sơ cấp nghề (đào tạo truyền nghề, dưới 3 tháng) chiếm 45,3% nhân lực có chuyên môn, bằng 19,4% tổng số nhân lực toàn Ngành. Nếu chỉ tính nhân lực có trình độ sơ cấp trở lên thì nhân lực được đào tạo chiếm khoảng 23% tổng nhân lực toàn Ngành. Nếu tính thêm số nhân lực được đào tạo truyền nghề, dưới 3 tháng, thì nhân lực được đào tạo của ngành Du lịch đạt khoảng 42% tổng nhân lực toàn Ngành.
   Cả nước hiện có khoảng 425 nghìn lao động trực tiếp và hơn 750 nghìn lao động gián tiếp, phần lớn ở độ tuổi dưới 30 (60%); phân bố ở khu vực phía Bắc 40%, miền Trung 10% và khu vực phía Nam 50%. Lao động quản lý nhà nước và quản trị kinh doanh chiếm 25%; lao động phục vụ trực tiếp chiếm 75%. Mới có 42,5% lao động được đào tạo, bồi dưỡng các nghề du lịch; có 3,5% cán bộ đạt trình độ đại học và trên đại học. Lao động sử dụng được ngoại ngữ chiếm 57,7%, nhiều nhất là tiếng Anh, chiếm 40%. Đội ngũ lao động này đã đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển du lịch nước ta.
   Nhân lực du lịch gián tiếp có khoảng 1.210.000 người, trong đó, đại học và cao đẳng 147.620 người, chiếm khoảng 12,2%; và trên đại học là 2.420 người, chiếm khoảng 0,2% nhân lực gián tiếp .
   Theo lĩnh vực hoạt động, nhân lực là hướng dẫn viên du lịch tốt nghiệp đại học chiếm khoảng 65,5% tổng số hướng dẫn viên; tỷ lệ này trong marketing du lịch là 84,2% và lễ tân là 65,3%. Trong lĩnh vực phục vụ buồng, bar, bàn, bếp… lao động có trình độ trung cấp và sơ cấp lại chiếm tỷ lệ lớn: Nhân viên bếp là 85,61%; bàn, buồng, bar tương ứng là: 72,4%, 70,7%, 75,5%.
   Đào tạo du lịch nói chung và đào tạo nghề du lịch nói riêng ở Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể cả về chất và về lượng. Theo con số thống kê của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch : Đến tháng 8/2010 cả nước có 284 cơ sở tham gia đào tạo du lịch, gồm: 62 trường đại học; 80 trường cao đẳng (trong đó có 8 trường cao đẳng nghề); 117 trường trung cấp (trong đó có 12 trường trung cấp nghề); 02 công ty đào tạo và 23 trung tâm, lớp đào tạo nghề. Theo quy định, các cơ sở đào tạo có thể đào tạo các bậc đào tạo thấp hơn; cơ sở đào tạo du lịch chuyên nghiệp có thể tham gia đào tạo nghề. Vì thế,  hiện nay cả nước có 346 lượt cơ sở đào tạo tham gia đào tạo du lịch các cấp đào tạo từ dưới sơ cấp đến sau đại học. Trong đó, 115 lượt cơ sở tham gia đào tạo đại học và cao đẳng du lịch, 144 lượt cơ sở đào tạo trung cấp chuyên nghiệp và 87 lượt cơ sở đào tạo nghề du lịch (trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề).
   Theo loại hình sở hữu có cơ sở đào tạo công lập và ngoài công lập, cơ sở đào tạo đầu tư trong nước và các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài; Hình thức tổ chức đào tạo chính quy và không chính quy, các hệ ngắn hạn và dài hạn.
   Mạng lưới đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch hiện có gồm các trường, trung tâm đào tạo của doanh nghiệp, của các địa phương và Bộ Văn hóa. Thể thao và Du lịch cũng đã bước đầu được hình thành, nâng cấp và tăng cường năng lực đào tạo, bồi dưỡng. Trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch đảm nhiệm đào tạo lại, bồi dưỡng công chức, viên chức ngành Du lịch. Hầu hết các tỉnh, thành phố đều có trung tâm chuyên đào tạo, bồi dưỡng nghề du lịch ngắn hạn hoặc trung tâm đào tạo đa ngành nghề tham gia đào tạo, bồi dưỡng du lịch.i
   Trong những năm qua số lượng người lao động được đào tạo về du lịch ở bậc đại học và cao đẳng ngày càng tăng trong cả nước. Điều này cho thấy, lực lượng lao động được trang vị kiến thức và kỹ năng trong ngành du lịch có xu hướng phát triển khá mạnh về qui mô và phạm vi.
   Khó khăn và tồn tại
   Chất lượng đào tạo phụ thuộc và nhiều yếu tố như chất lượng tuyển chọn đầu vào, khung và trình độ đào tạo theo chuẩn, chương trình, giáo trình, nội dung đào tạo, phương pháp giảng dạy tiến tiến và phù hợp…. Nhìn một cách tổng thể, các trường hiện nay đang nỗ lực rất nhiềm nhằm bắt kịp với sự thay đổi và hội nhập với tiêu chuẩn quốc tế, song, công tác đào tạo về du lịch tại các khoa có đào tạo du lịch của các trường đại học và cao đẳng (142 trường) còn gặp khá nhiều bất cập.
    Thứ nhất, xác định đối tượng và nhu cầu đào tạo tại các cơ sở đào tạo cao đẳng và đại học là một trong những vấn đề cần quan tâm đầu tiên trong đào tạo. Về cơ bản, nghề du lịch là một nghề có rào cản nhập ngành thấp nên cách nhìn nhận về nghề này trong xã hội thường khá đơn giản. Thêm nữa, định hướng trong các bậc học phổ thông trung học về việc lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai còn chưa rõ ràng, dẫn đến tình trạng mất phương hướng của học sinh khi lựa chọn trường và ngành đăng ký. Việc hướng nghiệp và làm quen với nghề nghiệp của học sinh cần được hướng dẫn cụ thể, mang tính liên tục hơn đặc biệt không chỉ dành riêng cho học sinh cuối cấp.
   Ngoài ra, yếu tố giới tính cũng có ảnh hưởng không nhỏ khi lựa chọn chuyên ngành du lịch. Thực tế cho thấy, ở rất nhiều trường tỷ lệ nữ cao có thể chiếm tới 80-90% tổng số sinh viên, đặc biệt những lớp thuộc chuyên ngành hướng dẫn du lịch, có đến 70% sinh viên xác định không theo nghề được học do sức khỏe, do yếu tố nghề nghiệp, gia đình…. Điều này dẫn tới sự lãng phí về vật chất lẫn tinh thần trong công tác đào tạo và đồng thời tạo ra một môi trường không tích cực trong nhà trường, cũng như trong việc đào tạo và sử dụng lao động sau này.
   Thứ hai, cơ sở vật chất, kỹ thuật trong đào tạo được coi là yếu tố hỗ trợ tích cực trong quá trình giáo dục và đào tạo trong nhà trường. Hiện nay, đào tạo du lịch ở Việt Nam có sự cạnh tranh rất lớn trên nhiều lĩnh vực giữa khối các trường tư thục và công lập. Sự bất cập có thể nhìn thấy rõ trong mức độ trang bị cơ sở vật chất, trường lớp và số lượng sinh viên cũng như yêu cầu trong công tác đào tạo. Vì vậy, xác định vấn đề đầu tư như thế nào để vừa tiết kiệm, vừa phát huy hiệu quả cao rất cần được quan tâm đúng mức.
   Các giáo cụ trực quan và đồ dùng trong quá trình dạy học thiếu hoặc không đồng đều, chắp vá do nguồn huy động vật chất tự có theo khả năng của khoa hoặc của trường. Việc sử dụng tùy thuộc vào mức độ và trình độ của giáo viên và sinh viên dẫn đến tình trạng không được bảo quản đúng tiêu chuẩn, hỏng hóc, thiếu hụt thường xuyên. Điều này ngoại trừ một số trường nằm trong khối một số cơ sở đào tạo chuyên về du lịch được xây dựng, mở rộng khá khang trang, nhất là các trường trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, đặc biệt là bốn trường được thụ hưởng dự án do Luxembourg tài trợ và 14 trường thụ hưởng Dự án EU được tăng cường và các trung tâm thẩm định kỹ năng nghề du lịch được trang thiết bị hiện đại, đạt tiêu chuẩn EUi. Vấn đề đặt ra ở đây là làm cách nào để có được những điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất để cho sinh viên được có cơ hội tiếp cận với các kỹ năng thực hành về nghiệp vụ đang học.
   Thứ ba, phần lớn số lượng giáo viên, giảng viên ở các trường có đào tạo về du lịch được đào tạo từ các ngành khác. Cơ bản là từ các khối ngành văn hóa, xã hội hoặc quản trị kinh doanh. Việc giảng dạy về du lịch chủ yếu dựa vào vốn kiến thức tự học, tổng hợp từ nhiều nguồn, từ nhiều kinh nghiệm của các thầy, cô. Trong điều kiện hội nhập hiện nay, ngoài yếu tố tích hợp tiêu chuẩn trong nước và quốc tế đối với chuyên môn nghiệp vụ trong khuôn khổ chương trình cho phép thì khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ và công nghệ thông tin để nâng tầm trong công tác giảng dạy là yêu cầu bắt buộc đối với giảng viên. Tuy đã có những cải thiện đáng kể với các chương trình đào tạo bổ sung song để đạt chuẩn khu vực và quốc tế thì đây vẫn là một trong những điểm yếu đối với đội ngũ giảng viên, đặc biệt là về ngoại ngữ.
   Ngoài ra, sự mất cân bằng trong đào tạo giữa lý thuyết và thực hành ở các bậc học cũng cần được quan tâm thích đáng. Ở hai bậc học này, việc đào tạo theo truyền thống trên giảng đường ít được gắn với thực hành. Vì vậy, mặc dù ngồi trên ghế nhà trường 3-4 năm nhưng có không ít sinh viên không có kỹ năng xử lý công việc.  Nguyên nhân có thể do nhiều yếu tố có thể xuất phát từ cách nhìn học đại học thì không hướng vào dạy nghề, bên cạnh sự hạn chế về cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ khi dạy thực hành chưa tương xứng nên giờ thực hành thường bị coi nhẹ hoặc làm lấy lệ. Nhìn chung, phần thực hành vẫn là một trong những vấn đề khó khăn rất lớn đối với việc giảng dạy du lịch ở các bậc học…Hầu hết các ý kiến của doanh nghiệp cũng như các cơ sở đào tạo trong các chương trình hội thảo chuyên ngành đều thống nhất ở hai vấn đề cơ bản:  đào tạo thiên về lý thuyết mà thiếu thực hành: khả năng tiếp cận thực tế và thích nghi với môi trường làm việc kém, giao tiếp cơ bản trong công việc chưa đạt yêu cầu đặc biệt là việc sử dụng ngoại ngữ.
   Trong tình hình hiện nay, khi thiết kế các chương trình đào tạo, các trường cũng đã cố gắng để lồng ghép và cập nhật đổi mới chương trình, hệ thống giáo trình của mình để phù hợp với quy định chung và quá trình đổi mới trong giáo dục đào tạo. Ngoài ra, việc kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sử dụng lao động chưa thực sự thường xuyên, liên tục nên cũng hiệu quả trong việc xác định hướng ưu tiên trong giáo dục và đào tạo du lịch chưa cao. Hệ thống giáo trình về du lịch còn thiếu, và chưa được cập nhật thường xuyên.
   Thứ tư, kiểm tra đánh giá, công nhận bằng cấp, chứng chỉ còn nhiều bất cập. Công tác đánh giá chưa phản ảnh đúng năng lực thực sự của người học và quá trình học tập. Việc đánh giá điểm số còn chủ quan do nhu cầu chạy theo điểm số, bằng cấp của xã hội…. Chính những yếu kém này tạo ra một bộ phận không nhỏ những sinh viên tốt nghiệp mặc dù được xếp hạng cao nhưng lại không có khả năng tác nghiệp và tìm việc làm tại các cơ sở sử dụng lao động. Điều này không chỉ tạo ra những bức xúc cho doanh nghiệp mà cũng là một áp lực lớn, tạo ra tâm lý không tốt đối với người học.
   Nghịch lý thường được chia sẻ khi đề cập tới việc đào tạo du lịch đó là khi đào tạo thì đòi hỏi phải có thực hành, nhưng khi đi kiến tập và thực tập tại các cơ sở thì thì sinh viên khó có thể tiếp cận được với công việc thực tế bởi nhiều quy định ràng buộc dẫn tới tình trạng suốt thời gian thực tập (8 tuần), kiến tập (1-3 tuần) sinh viên vẫn không có khả năng tiếp cận với thực tế nghề nghiệp và tích lũy được kinh nghiệm cho bản thân.
Tóm lại, trong bức tranh chung của công tác giáo dục và đào tạo du lịch vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, chất lượng giáo dục, đào tạo cải thiện chưa theo kịp với yêu cầu, chất lượng chưa cao, tính hợp lý và đồng bộ chưa còn hạn chế, thiếu tính kế thừa. Công tác phân luồng và hướng nghiệp còn bỏ ngỏ. Đổi mới giáo dục đào tạo còn chậm và chưa hiệu quả.
   Công tác xúc tiến và chuẩn bị cho sự thay đổi và hội nhập khu vực trong đào tạo du lịch tại các trường
   Về phía ngành:
   Đứng trước những khó khăn và thử thách trong thời kỳ hội nhập, khi mà việc luân chuyển lao động trong cộng đồng các nước ASEAN đã gần hơn và để đảm bảo lực lượng lao động trong ngành du lịch sẽ có khả năng cạnh tranh với các nước khác trong cộng đồng ASEAN, Tổng cục Du lịch với chức năng và nhiệm vụ của mình với sự hoạt động tích cực của dự án “Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội do liên minh Châu Âu tài trợ” (dự án EU) đã có những bước chuẩn bị đáng kể để sẵn sàng hội nhập.
   Một số kết quả đáng quan tâm có thể kể đến như: tích cực tuyên truyền, hướng dẫn, soạn thảo và giới thiệu các tài liệu, ấn phẩm phổ biến về quá trình, yêu cầu, tác động, ảnh hưởng…trong vấn đề hội nhập, có thể kể đến: Sách hướng dẫn cho người lao động du lịch, sách hướng dẫn dành cho các cơ sở giáo dục và đào tạo, sách hướng dẫn thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong ASEAN về nghề du lịch….nhằm hỗ trợ cho việc nâng cao nhận thức của các bên có liên quan. Hệ thống đào tạo nghề về du lịch kể cả hệ thống tiêu chuẩn nghề VTOS dần dần được phổ biến, mở rộng ra toàn ngành du lịch đặc biệt là các cơ sở giáo dục đào tạo về du lịch. Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, với chức năng và nhiệm vụ của mình, bên cạnh sự hỗ trợ tích cực của Tổng cục du lịch, cũng đã thành lập Trung tâm tư vấn và đào tạo du lịch. Mục tiêu cơ bản là xây dựng một nguồn tư liệu mở phục vụ cho công tác nghiên cứu. Kết hợp với sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành Du lịch trong cả nước hướng tới việc đào tạo du lịch chuyên sâu. Đồng thời, đây cũng là trung tâm kết nối các hoạt động liên kết, đào tạo và nghiên cứu khoa học về du lịch trong nước và quốc tế.
   Cụ thể, các tiêu chuẩn VTOS được cập nhật, bao gồm nội dung về du lịch có trách nhiệm, phù hợp với hướng dẫn của ASEAN và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trong khuôn khổ Dự án EU,  10 tiêu chuẩn nghề VTOS được thông qua, cả bản tiếng Anh và tiếng Việt, được in và đăng tải trên trang web của Dự án EU và Hội đồng cấp chứng chỉ nghiệp vụ du lịch Việt Nam, Các đào tạo viên VTOS của Dự án phát triển Nguồn nhân lực trước đã được lựa chọn và đào tạo lại về các tiêu chuẩn VTOS mới, Các đào tạo viên của 5 trường đào tạo du lịch mới và 14 trường cũ đã được đào tạo theo phương pháp tiếp cận của VTOS mới. Các giảng viên của các cơ sở đào tạo trên khắp cả nước được đào tạo về VTOS và phương pháp triển khai thực hiện giảng dạy VTOS và Du lịch có trách nhiệm trong đào tạo nghề.

3.daotaodulich

(Nguồn: Dự án “Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội do liên minh Châu Âu tài trợ” (dự án EU))

   Về phía các trường:  
   Các bước chuẩn bị nhằm bổ sung và hoàn thiện thêm kiến thức về nghề cũng như phương pháp giảng dạy mới, tiếp cận theo năng lực, hướng tới việc trang bị kiến thức, kỹ năng, hành vi và thái độ để giúp cho người học có đủ năng lực để thực hiện tốt một công việc của họ. Đây là một mô hình đào tạo phù hợp với hệ thống đào tạo tín chỉ hiện nay và cho phép các trường có thể linh hoạt và tận dụng thời gian, vật chất và con người để trang bị thêm hành trang cho sinh viên khi tham gia vào đội ngũ lao động. Với số lượng 3647 giảng viên được đào tạo bài bản về phương pháp, tiêu chuẩn cũng như những yêu cầu cụ thể của từng nghiệp vụ sẽ là những nhân tố tích cực để lan tỏa trong nhà trường và sẽ là những hạt nhân tạo nên sự thay đổi theo chiều hướng tích cực bắt đầu từ ngay chính những nhu cầu câp thiết của chính họ trong quá trình dạy học.

   Cập nhật và phổ biến bộ tiêu chuẩn chung trong ngành du lịch:
   Về cơ bản, bên cạnh những yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường và các khoa du lịch cũng đã tích cực tham gia trong các chương trình hội thảo, phổ biến lấy ý kiến của ngành để đổi mới chương trình cho phù hợp với điều kiện hiện nay với yêu cầu ngày một cao của doanh nghiệp đối với chất lượng đầu ra của sinh viên các trường. Có thể kể tới các hoạt động học tập, cập nhật phương pháp giảng dạy và nội dung tiêu chuẩn trong ngành trong nước và quốc tế, hội thảo đánh giá, tổng kết và đánh giá chương trình đào tạo của các trường Khoa du lịch, Đại học Mở Hà Nội, trường Đại học Công nghiệp, trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, Đại học Hạ Long, Đại học Hoa Sen (thành phố Hồ Chí Minh), Đại học Duy Tân (Đà Nẵng), …. Sự cạnh tranh không nhỏ giữa khối các trường công lập và tư thục cũng là động lực thúc đẩy sự đổi mới trên tất cả các lĩnh vực đặc biệt là việc xây dựng một cơ chế hoạt động tích cực tự chủ của các khoa du lịch.  Sợi dây liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp ngày càng được thắt chặt nhằm tạo dựng chuỗi “dịch vụ” liên tục và thực tế cho quá trình đào tạo, khắc phục những khó khăn về cơ sở vật chất và nâng cao tay nghề.
   Ngoài các hoạt động chính thức, việc nghiên cứu và tìm hiểu về những vấn đề có liên quan đến vấn đề đổi mới và cập nhật tiêu chuẩn trong ngành cũng được khuyến khích nhằm giúp cho sinh viên và giáo viên nhận diện rõ hơn về bối cảnh, cơ hội, thách thức trong công tác đào tạo và học tập hiện nay.
   Một số đề xuất nhằm cải thiện quá trình hội nhập trong công tác đào tạo du lịch
   Mục tiêu cụ thể trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 phần phát triển nhân lực đã ghi rõ: “ Phát triển nhân lực du lịch đảm bảo chất lượng, số lượng, cân đối về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch và hội nhập quốc tế. Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo về du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị giảng dạy động bộ, hiện đại, chuẩn hóa chất lượng giảng viên, chuẩn hóa giáo trình khung đào tạo du lịch…. Đa dạng hóa phương thức đào tạo, khuyến khích đào tạo tại chỗ, tự đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp…”.

   Nhu cầu nhân lực ngành Du lịch đến năm 2020
   (Theo trình độ đào tạo)

 

STT

 

Chỉ tiêu

Dự báo cho

Năm 2010

Năm 2015

Năm 2020

1

Tổng số lao động du lịch

460.000

620.000

870.000

2

Trình độ trên đại học

2.300

3.500

6.100

3

Trình độ đại học, cao đẳng

66.700

88.200

130.500

4

Trình độ trung cấp

78.200

86.800

113.100

5

Trình độ sơ cấp

101.200

133.200

194.000

6

Trình độ dưới sơ cấp (qua đào tạo tại chỗ, truyền nghề hoặc huấn luyện ngắn hạn)

211.600

308.300

426.300

 

Nguồn: Quy hoạch phát triển nhân lực ngành du lịch giai đoạn 2011 -2020   

Để đáp ứng yêu cầu bức thiết của quá trình đổi mới giáo dục và những thách thức của quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, cùng với sự hỗ trợ tích cực từ phía cơ quan quản lý ngành du lịch, các trường đại học và cao đẳng có đào tạo về du lịch cần có sự đánh giá và những giải pháp mang tính thực tế để thích nghi với tình hình mới.
   Về phía các cơ quan quản lý nhà nước
   Tổng cục Du lịch và các đơn vị trực thuộc tiếp tục thực hiện công tác tuyên truyền và phổ biến những thông tin có liên quan đến góc độ hội nhập trong công tác đào tạo du lịch, là cầu nối, tạo điều kiện liên kết với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước. Kết hợp với các Bộ, ngành có liên quan (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục dạy nghề, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội…) xây dựng các hành lang pháp lý phù hợp nhằm tạo điều kiện khuyến khích các trường đổi mới chương trình đào tạo, cập nhật tiêu chuẩn nghề trong nước và quốc tế, hỗ trợ liên kết liên doanh, mở rộng mô hình đào tạo nhằm tăng về số lượng và chất lượng của các chương trình. Đảm bảo yếu tố chất lượng về chương trình khung có thể theo kịp với tiêu chuẩn trong khu vực và quốc tế.
   Đối với các trường
   Đây là một nhiệm vụ mang tính cấp bách đồng thời cũng rất nhiều thử thách với sức ép từ nhiều phía. Với cách tiếp cận từ phía người dạy, người học các vấn đề nên được quan tâm bao gồm:
   Mạnh dạn hơn nữa trong việc trao quyền cho các khoa Du lịch nhằm tạo ra sự chủ động tích cực đổi mới và hội nhập. Bản thân các khoa trong khuôn khổ của mình cần chủ động tìm cách học hỏi và các nguồn hỗ trợ từ bên ngoài để tìm ra phương án tổ chức giảng dạy hợp lý. Chương trình học không mang tính lý thuyết đơn thuần. Cố gắng tìm cơ hội kết hợp với doanh nghiệp thành lập các liên minh giáo dục trong du lịch (quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo, hiệp hội nghề nghiệp và doanh nghiệp). Việc bắt tay giữa cơ quan quản lý ngành, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo sẽ mang lại những lợi ích hết sức to lớn trong việc tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn cho các bên trong vấn đề phát triển nhân lực. Doanh nghiệp có được đội ngũ nhân viên tốt, các trường giải tỏa được chất lượng và tiêu chuẩn đầu ra phù hợp với nhu cầu của xã hội, hiệp hội nghề nghiệp có thể tận dụng được sự sáng tạo và lao động trẻ, cơ quan quản lý có thể thực hiện tốt chức năng phát triển ngành đúng hướng và bền vững.
   Một trong những công việc đáng quan tâm hiện nay đó là việc kết hợp định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông trung học. Các trường có đào tạo về du lịch có thể kết hợp các chương trình giáo dục kỹ năng sống, trong các chương trình ngoại khóa để tiếp cận và chủ động đánh giá nhu cầu đào tạo và nhu cầu học tập. Trên cơ sở đó, xác định căn cứ để xác định lựa chọn đối tượng phù hợp trên cả phương diện đánh giá của giáo viên và của các học sinh.
   Xây dựng chương trình đào tạo phù hợp theo tiêu chuẩn chung trong khu vực và quốc tế đồng thời phù hợp với thời lượng của chương trình đào tạo theo tín chỉ. Cần cân nhắc giữa yếu tố lý thuyết và thực hành nghề ở tất cả các cấp độ đào tạo.  Đảm bảo ở các cấp độ cơ bản sinh viên có thể nắm được những kỹ năng nghề nghiệp nhất định để có thể tham gia hoạt động nghề nghiệp ở mức đơn giản nhất nhằm tích lũy kinh nghiệm cho bản thân và tìm ra những định hướng trong việc nghiên cứu và học tập ở những giai đoạn tiếp theo. Việc xây dựng chương trình cũng cần cân nhắc tính linh hoạt để có thể tận dụng các doanh nghiệp trong công tác đào tạo thực hành chính thức và không chính thức. Coi đây là cơ sở thực hành lớn nhằm khắc phục khó khăn về cơ sở vật chất cũng như giáo viên dạy thực hành. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cần lưu ý lựa chọn các doanh nghiệp đạt chuẩn và áp dụng những tiêu chuẩn kỹ thuật đã được phổ biến trong ngành.
   Bên cạnh việc tìm kiếm cơ hội hợp tác các trường cũng cần chủ động tích cực hơn trong việc xây dựng năng lực đào tạo cho mình. Cần đảm bảo các yếu tố cơ bản trong đào tạo như: hệ thống giáo trình, giáo án, và hệ thống thư viện trong đó bao gồm cả thư viện điện tử cần cập nhật thường xuyên nhằm phục vụ cho nhu cầu tự nghiên cứu và tự học. Tận dụng tối đa hệ thống công nghệ thông tin trong dạy và học, nâng cao khả năng kết nối, hợp tác với các trường trong cả nước và trong khu vực. Bên cạnh đó, cần trang bị các phương pháp tiếp cận mới, tận dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của các đối tác nhằm tạo dựng các phòng học chức năng trong phạm vi có thể nhằm phát huy tính chủ động của người học, phát huy tối đa tính sáng tạo của người học.
   Tạo môi trường học đường mở, văn minh, thân thiện, không áp đặt và đảm bảo sự công bằng trong suốt quá trình học. Đây là yếu tố hết sức quan trọng vì trong ngành du lịch, yếu tố thái độ đóng vai trò hết sức quan trọng. Nó có thể giúp bù đắp những thiếu hụt về mặt vật chất và tinh thần trong quá trình cung cấp dịch vụ. Chính vì thế, sinh viên cần có thói quen ứng xử văn minh, giữ gìn vệ sinh, cẩn thận, tỷ mỷ và giao tiếp chủ động, tích cực ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
   Về đội ngũ giảng viên cần có sự sàng lọc và đào tạo lại theo tiêu chuẩn chung. Nhìn chung, theo xu hướng giảng dạy hiện đại, giảng viên phải đảm bảo về trình độ chuyên môn, giỏi trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đồng thời, cũng phải đảm bảo là một nhân viên giỏi tay nghề trong lĩnh vực nghiệp vụ giảng dạy, không phân biệt ở bậc đào tạo nào. Cần có các cam kết trách nhiệm và cơ chế khuyến khích giáo viên tham gia vào công tác trực tiếp của nghề du lịch để có những trải nghiệm tích cực làm phong phú nội dung trong bài giảng lý thuyết và thuận lợi cho việc hướng dẫn thực hành. Hầu hết các trường đều đã thực hiện việc đánh giá giảng viên sau mỗi học phần, song việc đánh giá mới dừng lại ở góc độ phục vụ cho công tác quản lý mà chưa có yếu tố phản hồi đối với giảng viên. Như vậy, cần xem xét mức độ công khai của các thông tin này đối với mỗi cá nhân để rút kinh nghiệm trong công tác giảng dạy. Điều này sẽ rất hữu ích trong việc tự nâng cao năng lực của bản thân mỗi giảng viên.
   Việc mỗi giảng viên phải tự hoàn thiện và nâng cao trình độ của mình là điều bắt buộc bởi lẽ, cơ chế đào tạo mới sẽ chính là hình thức sàng lọc giảng viên một cách khách quan nhất. Việc lựa chọn của doanh nghiệp với sản phẩm đầu ra của các trường, việc lựa chọn giảng viên cho mỗi hệ thống tín chỉ đào tạo sẽ là những thách thức đồng thời cũng là cơ hội nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy và hoàn thiện đối với đội ngũ giảng viên. Quan niệm truyền thống, các giảng viên thường ít có sự chia sẻ trao đổi mà thường giữ riêng cho mình với những nội dung, thông tin mới bởi sự ám ảnh của yếu tố cạnh tranh song cùng với sự hỗ trợ của dự án EU, với những tiền thân của hiệp hội VTOS, nhóm đào tạo viên các ngành lễ tân, buồng, …nếu có thể duy trì hoạt động thường xuyên sẽ giúp cho các thầy cô chia sẻ những vấn đề thuộc nội dung và phương pháp. Đây là một ý tưởng hết sức có giá trị bởi nó có thể đảm bảo được tính thống nhất và sự lan tỏa trong quá trình giảng dạy.
   Đào tạo và phát triển nhân lực ngành du lịch và nâng tầm chất lượng đào tạo là nhiệm vụ hết sức quan trọng nhằm góp phần thực hiện mục tiêu và các chỉ tiêu kinh tế của Đảng và nhà nước, phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đủ sức hội nhập khu vực và quốc tế. Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó, chúng tôi kiến nghị: Tập trung xây dựng lộ trình triên khai áp dụng đồng bộ từ Trung ương đến địa phương nhằm hình thành hệ thống đào tạo đạt tiêu chuẩn cho ngành và cho đất nước. Phải được sự quan tâm của cả hệ thống chính trị và sự hoạt động thống nhất chia sẻ thường xuyên giữa các cấp, các ngành trong việc đánh giá nhân lực trong ngành du lịch, đánh giá chất lượng đào tạo, đầu tư cơ sở vật chất cho dạy và học, đổi mới cách dạy và học, thẩm định chặt chẽ chất lượng giáo viên tại các cơ sở đào tạo về du lịch với công tác tuyển sinh đầu vào, nội dung chương trình, giáo trình, kiểm tra đánh giá kết quả từng khóa học để nhân lực đào tạo ra đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và xã hội.
     TÀI LIỆU THAM KHẢO
   1. Báo cáo chuyên đề “ Du lịch Việt Nam thực trạng và giải pháp phát triển”, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 6/2014 (tr3-12)
   2. Chiến lược phát triển nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch 2011 – 2020, Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2011
   3. Đào tạo và phát triển nhân lực ngành du lịch trong giai đoạn đến năm 2020, PGS.TS Vũ Đức Minh- Văn phòng Chính phủ, Ths Dương Hồng Hạnh, trường Đại học Thương mại, Saigonact.edu.vn, 1/2015,
   4. Hiệp định khung  ASEAN về dịch vụ: Thúc đẩy hợp tác, nâng cao khả năng cạnh tranh, Nguyễn Phượng, Báo Công thương online, 13/01/2016
   5. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến  2030, Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch, 2013
   6. Quy hoạch phát triển nhân lực ngành du lịch giai đoạn 2011 -2020, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2011
   7. Travel and tourism economic impact 2015 Vietnam, UNWTO

Lan Hương – QLKH

Bài cùng chuyên mục